Giá vàng trong nước sáng 15/9/2026 tiếp tục điều chỉnh trước thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bắt đầu cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày.
Vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc được niêm yết 142,6 triệu đồng/lượng mua vào và 145,6 triệu đồng/lượng bán ra, cùng giảm 400.000 đồng so với ngày 14/9.
Giá vàng sáng 14/9 biến động trái chiều, SJC giảm 300.000 đồng/lượng
Giá vàng hôm nay 14/9/2026 biến động trái chiều. Vàng SJC giảm 300.000 đồng/lượng, trong khi một số dòng vàng tăng nhẹ 100.000 đồng/lượng.
Như vậy, từ mức đỉnh ngắn hạn 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8, giá bán SJC đã giảm khoảng 5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán vẫn giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng, cho thấy chi phí giao dịch ngắn hạn vẫn tương đối lớn.
| Khu vực | Mua 15/9 | Bán 15/9 | Mua 14/9 | Bán 14/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 142,60 | 145,60 | 143,00 | 146,00 | -0,40/-0,40 |
| Miền Bắc | 142,60 | 145,60 | 143,00 | 146,00 | -0,40/-0,40 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
DOJI cũng hạ giá vàng miếng SJC 400.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn 9999 giảm nhẹ hơn, khoảng 200.000 đồng/lượng.
| Sản phẩm DOJI | Mua 15/9 | Bán 15/9 | So với 14/9 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 142,60 | 145,60 | -0,40 |
| Kim TT/AVPL | 142,80 | 146,80 | -0,20 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 142,80 | 146,80 | -0,20 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 138,20 | 140,20 | -0,30 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 137,70 | 139,70 | -0,30 |
| Nữ trang 9999 | 142,40 | 146,40 | -0,10 |
| Nữ trang 999 | 141,90 | 145,90 | -0,10 |
| Nữ trang 99 | 140,00 | 144,70 | -0,30 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Nhẫn DOJI vẫn bán ở 146,8 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng SJC cùng hệ thống 1,2 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán của sản phẩm này tiếp tục ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, vàng miếng giảm 400.000 đồng/lượng. Nhẫn trơn 999.9 giảm 600.000 đồng chiều mua và 500.000 đồng chiều bán.
| Sản phẩm PNJ | Mua 15/9 | Bán 15/9 |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 142,60 | 145,60 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 142,40 | 145,50 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 142,40 | 145,50 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 142,40 | 145,50 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 142,40 | 145,50 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 139,90 | 144,90 |
| Vàng nữ trang 999 | 139,76 | 144,76 |
| Vàng nữ trang 9920 | 137,54 | 143,74 |
| Vàng nữ trang 99 | 137,25 | 143,45 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Nhẫn PNJ hiện có mức bán 145,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn nhẫn DOJI khoảng 1,3 triệu đồng.
Khoảng cách mua - bán khoảng 3,1 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu niêm yết vàng SJC ở 142,6 - 145,6 triệu đồng/lượng. So với ngày trước, chiều mua giảm 300.000 đồng, chiều bán giảm 400.000 đồng.
| Sản phẩm | Mua 15/9 | Bán 15/9 |
|---|---|---|
| BTMC SJC | 142,60 | 145,60 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Tại Phú Quý, vàng miếng và nhẫn cùng giảm 400.000 đồng/lượng.
| Sản phẩm Phú Quý | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 142,60 | 145,60 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 142,60 | 146,00 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 142,60 | 146,00 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 142,50 | 145,90 |
| Vàng trang sức 999.9 | 140,30 | 145,30 |
| Vàng trang sức 999 | 140,20 | 145,20 |
| Vàng trang sức 99 | 138,90 | 143,85 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Điểm khá khác biệt là vàng trang sức Phú Quý lại tăng khoảng 300.000 đồng/lượng so với ngày 14/9, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn giảm.
Vàng thế giới thủng 4.300 USD, lợi suất Mỹ vượt 5%
Vàng thế giới sáng 15/9 theo bảng dữ liệu cập nhật ở mức:
4.297 USD/ounce.
So với mức 4.349 USD ngày 14/9, giá giảm:
52 USD/ounce, tương đương khoảng 1,2%.
| Chỉ tiêu | 15/9/2026 | 14/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.297 | 4.349 |
| Thấp nhất | 4.254 | 4.292 |
| Cao nhất | 4.355 | 4.403 |
| Thay đổi | -52 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng -1,20% |
Đơn vị: USD/ounce.
Đà giảm này phù hợp với xu hướng của phiên Mỹ trước đó. Vàng giao ngay đã rơi xuống mức thấp nhất hơn một tháng khi giá dầu tăng mạnh, đồng USD mạnh lên và giới đầu tư gần như chuyển sang kịch bản Fed nâng lãi suất trong tuần này.
Trong phiên 14/9, vàng giao ngay được ghi nhận giảm xuống quanh 4.306 - 4.313 USD/ounce. Mức 4.297 USD trong dữ liệu sáng 15/9 cho thấy áp lực bán tiếp tục xuất hiện trong những giờ đầu phiên châu Á.
Nguyên nhân đầu tiên là kỳ vọng Fed.
Khảo sát mới nhất cho thấy 86/101 nhà kinh tế, tương đương khoảng 85%, dự báo Fed nâng lãi suất 0,25 điểm phần trăm, đưa vùng lãi suất mục tiêu từ 3,50 - 3,75% lên 3,75 - 4,00%. Trong khi đó, thị trường hợp đồng tương lai có thời điểm định giá xác suất nâng lãi suất khoảng 90-93%.
Các ngân hàng lớn như Goldman Sachs, JPMorgan, HSBC và Deutsche Bank cũng đã chuyển sang dự báo Fed tăng lãi suất sau các số liệu lạm phát gần đây.
Yếu tố thứ hai là lợi suất trái phiếu Mỹ.
Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm ngày 14/9 đã vượt 5% lần đầu tiên kể từ tháng 10/2023, có thời điểm lên khoảng 5,01%.
Đây là áp lực rất lớn với vàng.
Khi một tài sản an toàn như trái phiếu Mỹ đem lại lợi suất khoảng 5%, chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng - tài sản không sinh lãi - tăng mạnh.
Yếu tố thứ ba là USD.
Dollar Index tăng khoảng 0,3% lên 99,41 điểm trong phiên 14/9 và từng chạm 99,735 điểm, cao nhất kể từ đầu tháng.
USD mạnh khiến vàng trở nên đắt hơn đối với nhà đầu tư sử dụng những đồng tiền khác và tạo thêm sức ép lên kim loại quý.
Một nghịch lý đáng chú ý vẫn nằm ở giá dầu.
Brent có lúc vọt lên gần 110 USD/thùng trước khi hạ nhiệt; giá đóng cửa quanh 105,68 USD/thùng, còn WTI ở 101,39 USD/thùng.
Giá dầu tăng sau các cuộc tấn công mới tại Saudi Arabia và khu vực Vịnh. Tuyến ống Đông - Tây của Saudi Arabia, tuyến vận chuyển cho phép dầu tránh eo biển Hormuz, đã phải tạm ngừng hoạt động; sự cố được đánh giá có khả năng ảnh hưởng tới khoảng 4% nguồn cung dầu thế giới.
Thông thường căng thẳng địa chính trị có lợi cho vàng.
Nhưng trong tình hình hiện tại, thị trường tập trung nhiều hơn vào tác động lạm phát của dầu trên 100 USD. Giá năng lượng càng cao, Fed càng có lý do để giữ lãi suất cao hoặc tiếp tục tăng.
Bởi vậy, hiệu ứng “lãi suất cao” đang lấn át phần nào nhu cầu trú ẩn.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 135,3 triệu đồng/lượng
Lấy tỷ giá bán USD/VND gần nhất khoảng:
26.110 đồng/USD
và giá vàng thế giới:
4.297 USD/ounce,
quy đổi theo công thức:
4.297 × 26.110 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
135,3 triệu đồng/lượng.
Mức này chưa bao gồm thuế, phí, chi phí gia công và các chi phí kinh doanh.
Trong khi đó, SJC bán ra:
145,6 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch tương ứng:
khoảng 10,3 triệu đồng/lượng.
Ngày 14/9, mức chênh tham khảo chỉ quanh 9 triệu đồng/lượng.
Như vậy khoảng cách đã nới rộng hơn 1 triệu đồng chỉ sau một ngày, chủ yếu vì vàng thế giới giảm nhanh hơn giá trong nước.
Đây là một trong những rủi ro đáng chú ý nhất đối với người mua vàng miếng lúc này.
Dự báo giá vàng 15/9: Chờ quyết định Fed, vùng 4.250 USD trở nên quan trọng
Ngày 15/9 là ngày đầu tiên của cuộc họp Fed.
Quyết định chính sách được công bố vào 14h ngày 16/9 theo giờ miền Đông Mỹ, tương đương khoảng 1h sáng 17/9 theo giờ Việt Nam.
Thị trường hiện không chỉ quan tâm Fed có tăng 0,25 điểm phần trăm hay không mà còn chú ý tới dự báo lãi suất mới và thông điệp về những tháng tiếp theo. Một số định giá trên thị trường thậm chí đã bắt đầu tính tới nhiều lần tăng lãi suất tiếp theo.
Kịch bản cơ sở với vàng thế giới
Sau khi mất mốc 4.300 USD, vùng giá ngắn hạn dự kiến:
4.240 - 4.350 USD/ounce.
Hỗ trợ gần:
4.250 - 4.280 USD.
Kháng cự:
4.320 - 4.350 USD.
Mức 4.300 USD hiện chuyển từ hỗ trợ sang vùng giằng co quan trọng.
Kịch bản vàng phục hồi
Nếu thị trường nhận thấy việc Fed tăng 0,25 điểm phần trăm đã được phản ánh gần hết vào giá, vàng có thể xuất hiện nhịp mua theo kiểu “bán tin đồn, mua sự thật”.
Nếu lấy lại:
4.320 - 4.350 USD,
giá có thể hướng tới:
4.380 - 4.400 USD.
Nếu Fed tăng lãi suất nhưng đưa ra thông điệp mềm về các lần tăng tiếp theo, vàng có khả năng phục hồi mạnh hơn.
Kịch bản vàng tiếp tục giảm
Kịch bản rủi ro hơn xảy ra nếu Fed không chỉ tăng 0,25 điểm phần trăm mà còn phát tín hiệu còn nhiều đợt tăng lãi suất phía trước.
Khi đó, nếu vàng thủng:
4.250 USD,
vùng tiếp theo có thể là:
4.200 - 4.230 USD/ounce.
Nếu lợi suất 10 năm tiếp tục duy trì trên 5% và USD còn tăng, áp lực giảm có thể kéo dài.
Dự báo SJC ngày 15/9
SJC hiện ở:
142,6 - 145,6 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở trong ngày:
142 - 146 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới giữ được vùng 4.250 - 4.300 USD, giá bán SJC có thể chủ yếu dao động quanh:
145 - 146 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới hồi lại trên 4.350 USD, SJC có thể trở về:
146 - 147 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu vàng quốc tế thủng 4.250 USD, giá bán SJC có thể chịu áp lực xuống:
144 - 145 triệu đồng/lượng.
Khoảng chênh hơn 10 triệu đồng/lượng giữa SJC và vàng quốc tế cho thấy thị trường trong nước vẫn có dư địa điều chỉnh nếu thế giới tiếp tục giảm.
Giá vàng nhẫn đáng chú ý ra sao?
Giá bán nhẫn sáng 15/9:
DOJI 9999: 146,8 triệu đồng/lượng.
Phú Quý 999.9: 146 triệu đồng/lượng.
PNJ 999.9: 145,5 triệu đồng/lượng.
Như vậy DOJI cao hơn PNJ khoảng:
1,3 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán:
DOJI: 4 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: 3,4 triệu đồng/lượng.
PNJ: 3,1 triệu đồng/lượng.
Đây vẫn là chi phí rất lớn với người mua bán trong thời gian ngắn.
Có nên mua vàng trước Fed?
Giá SJC đã giảm khoảng 5 triệu đồng/lượng so với mức đỉnh ngày 26/8, trong khi vàng quốc tế cũng lùi xuống vùng thấp hơn một tháng.
Nhưng chưa thể coi đây là vùng giá ít rủi ro.
Ba yếu tố cần đặc biệt theo dõi là:
lợi suất trái phiếu Mỹ đã vượt 5%;
thị trường định giá xác suất Fed tăng lãi suất trên 90%;
SJC đang cao hơn vàng quốc tế quy đổi khoảng 10,3 triệu đồng/lượng.
Với người giao dịch ngắn hạn, chênh lệch mua - bán 3-4 triệu đồng/lượng còn làm điểm hòa vốn trở nên xa hơn.
Trong khi đó, chỉ một thông điệp bất ngờ của Fed cũng có thể khiến vàng quốc tế biến động hàng chục USD trong thời gian rất ngắn.
Vì vậy, phiên 15-17/9 nhiều khả năng là giai đoạn biến động mạnh hơn bình thường, thay vì một vùng giá thuận lợi để chạy theo các nhịp tăng hoặc giảm ngắn.
Kết luận, áp lực đối với vàng đang nghiêng về phía giảm trước cuộc họp Fed. Vàng quốc tế đã mất mốc 4.300 USD, USD mạnh lên và lợi suất 10 năm Mỹ vượt 5%. Dầu trên 100 USD vừa tạo nhu cầu trú ẩn, vừa khiến kỳ vọng lạm phát và tăng lãi suất lớn hơn.
Vùng 4.250 USD vì thế trở thành hỗ trợ cần theo dõi sát. Nếu giữ được, vàng có thể hình thành nhịp hồi kỹ thuật. Nếu mất vùng này và Fed tiếp tục phát tín hiệu cứng rắn, khả năng kiểm tra 4.200 - 4.230 USD sẽ tăng.
Đối với SJC, mức 145,6 triệu đồng/lượng hiện vẫn cao hơn vàng thế giới quy đổi hơn 10 triệu đồng. Đây là khoảng cách khá lớn và cũng là lý do giá trong nước có thể tiếp tục điều chỉnh nếu vàng quốc tế chưa tìm được đáy.