Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã ký chứng thực Nghị quyết số 252/2025/QH15 của Quốc hội khóa XV sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 9/1/2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Biểu tượng búa liềm, cờ Đảng, cờ Tổ quốc chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được trang trí gần Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Biểu tượng búa liềm, cờ Đảng, cờ Tổ quốc chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được trang trí gần Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát là: Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững, các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; môi trường sinh thái được bảo vệ, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển toàn diện nguồn nhân lực, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.

Về mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt trên 8%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 8.500 USD. Tỷ trọng trong GDP của khu vực dịch vụ đạt trên 50%, khu vực công nghiệp - xây dựng trên 40% (trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28%), khu vực nông, lâm, thủy sản dưới 10%. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt khoảng 7%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 8,5%/năm. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%.

Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao. Phát huy lợi thế của từng vùng kinh tế - xã hội; tập trung phát triển 2 vùng động lực phía Bắc và phía Nam gắn với 2 cực tăng trưởng là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp lớn vào phát triển chung của đất nước.

Phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Phát triển nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực; thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất châu Á. Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa.

Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, bao gồm các trục giao thông đường bộ Bắc - Nam (đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, một số đoạn của đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây, đường ven biển), các trục giao thông Đông - Tây quan trọng, phấn đấu có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc; các cảng biển cửa ngõ có chức năng trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không quốc tế lớn, các tuyến đường sắt kết nối với các cảng biển lớn, đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị...

Nghị quyết quy định, tổ chức không gian phát triển đất nước thành 6 vùng kinh tế - xã hội; xây dựng mô hình tổ chức, cơ chế điều phối vùng để thực hiện liên kết nội vùng và thúc đẩy liên kết giữa các vùng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Trong đó, vùng Trung du và miền núi phía Bắc: phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt khoảng 9 - 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và toàn diện.

Vùng Đồng bằng sông Hồng: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Xây dựng vùng Đồng bằng sông Hồng là động lực phát triển hàng đầu, có vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước.

Vùng Bắc Trung Bộ: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 - 10,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển mạnh kinh tế biển; nâng cao hiệu quả hệ thống cảng biển, các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp; ưu tiên phát triển các khu kinh tế ven biển tập trung vào một số ngành trọng điểm phù hợp với các địa phương, tạo đột phá tăng trưởng.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9,5 - 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030.

Vùng Đông Nam Bộ: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 - 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Xây dựng Đông Nam Bộ trở thành vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực; đi đầu trong đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 9 - 9,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động và hiệu quả cao của cả nước, khu vực và thế giới. Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hiện đại, quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh.

baotintuc.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Nếu xe hỏng do xăng E10, ai chịu trách nhiệm?

Nếu xe hỏng do xăng E10, ai chịu trách nhiệm?

Trước những băn khoăn của người dân về việc sử dụng xăng E10, Bộ Công Thương đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan, trong đó có trách nhiệm của các bên khi xảy ra sự cố được cho là có liên quan đến chất lượng nhiên liệu.

Tổng Giám đốc Ngân hàng CSXH Trung ương làm việc với Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh Lào Cai

Tổng Giám đốc Ngân hàng CSXH Trung ương làm việc với Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh Lào Cai

Chiều 30/5, Đoàn công tác của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Trung ương do đồng chí Dương Quyết Thắng - Tổng Giám đốc làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Chi nhánh NHCSXH tỉnh Lào Cai nhằm đánh giá kết quả hoạt động 5 tháng đầu năm 2026 và định hướng triển khai nhiệm vụ đến năm 2030.

Những mô hình kinh tế tiêu biểu ở Phong Dụ Hạ

Những mô hình kinh tế tiêu biểu ở Phong Dụ Hạ

Những năm gần đây, xã Phong Dụ Hạ đã có nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ khai thác tốt tiềm năng đất đai, lợi thế đồi rừng cùng sự đồng hành của chính quyền địa phương, nhiều mô hình kinh tế tiêu biểu đã mang lại hiệu quả rõ nét, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Hiểu đúng về xăng E10

Hiểu đúng về xăng E10

Từ 01/6/2026, xăng sinh học E10 sẽ chính thức được bán trên toàn quốc. Tuy nhiên, không ít người vẫn còn tâm lý lo lắng, băn khoăn về chất lượng, mức tiêu hao nhiên liệu cũng như khả năng ảnh hưởng đến động cơ phương tiện của loại xăng mới này.

Tà Xi Láng phát huy nội lực xây dựng nông thôn mới

Tà Xi Láng phát huy nội lực xây dựng nông thôn mới

Từ một xã vùng cao với nhiều tuyến đường đi lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa, Tà Xi Láng hôm nay đang từng ngày đổi thay với diện mạo nông thôn khởi sắc hơn. Đường giao thông liên thôn đã được cứng hóa, nhiều ngôi nhà khang trang mọc lên, đời sống người dân ngày càng cải thiện. Kết quả đó là sự đồng lòng của cấp ủy, chính quyền cùng tinh thần chủ động, trách nhiệm của mỗi người dân trong xây dựng nông thôn mới. 

Tạo dựng thương hiệu giống cá chép lai Lào Cai

Tạo dựng thương hiệu giống cá chép lai Lào Cai

Những năm gần đây, cùng với định hướng phát triển thủy sản theo hướng hàng hóa, chất lượng cao, ngành nông nghiệp tỉnh đã chú trọng nghiên cứu, chọn tạo các giống thủy sản phù hợp nhu cầu thị trường. Từ những nỗ lực đó, giống cá chép lai Lào Cai đã từng bước khẳng định chất lượng, tạo dựng thương hiệu riêng và vươn ra nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.

Bàn giao mốc giải phóng mặt bằng các nhà ga tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bàn giao mốc giải phóng mặt bằng các nhà ga tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Từ ngày 27 - 29/5, Ban Quản lý Dự án Đường sắt (Bộ Xây dựng) phối hợp với Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai, chính quyền các địa phương và đại diện đơn vị tư vấn, thiết kế tổ chức bàn giao mốc giới giải phóng mặt bằng các nhà ga tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (đoạn qua tỉnh Lào Cai).

fb yt zl tw