Đề xuất lấy dữ liệu và AI làm nền tảng phát triển đường sắt đô thị thông minh

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạng lưới metro với quy mô lớn, gắn với định hướng phát triển đô thị dài hạn của thành phố và khu vực kinh tế trọng điểm, đi kèm với đó là giao thông thông minh, đô thị thông minh và nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trên thế giới, metro ngày càng được nhìn nhận không chỉ là hạ tầng vận tải công cộng, mà là “xương sống” của hệ sinh thái đô thị thông minh, gắn với TOD (Transit Oriented Development), kết nối đa phương thức, các nền tảng số như MaaS (Mobility as a Service), cũng như khai thác dữ liệu thời gian thực để tối ưu vận hành và giảm phát thải. Nhiều đô thị như Tokyo, Hong Kong, Singapore, Helsinki, Seoul hay Thâm Quyến đã phát triển metro như một nền tảng tích hợp giao thông, không gian, dịch vụ và dữ liệu trong cùng một hệ sinh thái.

Các chuyên gia trao đổi về định hướng phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam.
Các chuyên gia trao đổi về định hướng phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, việc phát triển hệ thống metro tại Việt Nam không chỉ là bài toán hạ tầng giao thông mà còn mở ra cơ hội hình thành các nền tảng dữ liệu và công nghệ cho đô thị thông minh. Theo quy hoạch, TP Hồ Chí Minh dự kiến phát triển khoảng 1.012 km đường sắt đô thị với tổng vốn đầu tư ước tính 103,4 tỷ USD, trong khi Hà Nội dự kiến xây dựng hơn 600 km với nhu cầu vốn khoảng 55,4 tỷ USD. Quy mô đầu tư lớn này cho thấy metro sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc giao thông đô thị, tổ chức lại không gian phát triển và thúc đẩy các dịch vụ đô thị thế hệ mới.

Nhằm thảo luận về tầm nhìn phát triển này cũng như nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành giao thông thông minh, Trường Đại học Việt Đức phối hợp với Sở Xây dựng, Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh, Công ty Vận hành Đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh, Tập đoàn FPT và các đối tác tổ chức hội thảo chuyên đề “Từ đường sắt thông minh đến giao thông thông minh và thành phố thông minh: Nhu cầu nguồn nhân lực”.

Theo ông Nguyễn Duy Thạch, Giám đốc Ban Chuẩn bị đầu tư thuộc Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh (MAUR), thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển mạng lưới metro với quy mô lớn, gắn với định hướng phát triển đô thị dài hạn của thành phố và khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam. Theo quy hoạch, mạng lưới đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh có tổng chiều dài khoảng 1.024 km với 27 tuyến, kết nối khu vực TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu.

Các tuyến metro được định hướng kết nối trung tâm thành phố với các khu đô thị mới, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và hệ thống giao thông vành đai. Khi hoàn thành, hệ thống này sẽ trở thành “xương sống” của mạng lưới vận tải công cộng, kết nối với các loại hình vận tải khác như xe buýt, BRT và các phương tiện di chuyển cá nhân.

Ông Trần Võ Anh Minh, Phó Trưởng phòng Quản lý Đường sắt đô thị (Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh) cho biết: Phát triển metro không chỉ là đầu tư hạ tầng mà còn là đầu tư cho con người. Theo dự báo của thành phố, riêng lực lượng vận hành và khai thác hệ thống đường sắt đô thị có thể cần khoảng 17.000 người vào năm 2045, trong khi lực lượng xây dựng có thể lên tới hơn 20.000 người.

Trong khi đó, ông Phan Thanh Sơn, Giám đốc Chiến lược Đường sắt FPT Railway Mobility Technology, Tập đoàn FPT, đã chia sẻ góc nhìn của doanh nghiệp công nghệ về vai trò của dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quy hoạch, thiết kế, quản lý khai thác và vận hành hệ thống đường sắt đô thị. Ông Sơn nhấn mạnh rằng, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để không chỉ xây dựng các tuyến metro mới, mà còn đồng thời hình thành một năng lực công nghệ nội sinh cho ngành đường sắt đô thị. Nếu biết kết hợp giữa đầu tư hạ tầng, chiến lược dữ liệu, hệ sinh thái doanh nghiệp và đào tạo nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có thể rút ngắn quá trình tiếp cận công nghệ, từng bước làm chủ các khâu then chốt và hướng tới xuất khẩu giải pháp trong tương lai.

Ông Phan Thanh Sơn cho rằng, giá trị lớn nhất của metro trong đô thị thông minh không chỉ nằm ở năng lực vận chuyển hành khách, mà còn ở khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghệ phục vụ dự báo nhu cầu đi lại, tối ưu vận hành, đảm bảo an toàn công cộng, tổ chức lại không gian đô thị và phát triển các dịch vụ mới xoay quanh ga tàu, hành trình và các điểm kết nối đa phương thức.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, ông Phan Thanh Sơn đề xuất các định hướng lớn cho quá trình phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam. Trước hết cần định hướng phát triển hệ thống metro dựa trên nền tảng dữ liệu và AI, ứng dụng AI và dữ liệu lớn xuyên suốt từ khâu quy hoạch, thiết kế đến quản lý khai thác và vận hành, đồng thời coi dữ liệu hạ tầng giao thông là tài sản chiến lược của quốc gia.

Bên cạnh đó, quá trình triển khai các dự án metro cần gắn với lộ trình từng bước làm chủ công nghệ ngành đường sắt. Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Hàn Quốc hay Trung Quốc, việc tiếp nhận và phát triển các công nghệ cốt lõi trong thiết kế, vận hành và bảo trì hệ thống là yếu tố quan trọng để giảm phụ thuộc vào tư vấn và nhà cung cấp nước ngoài, đồng thời nâng cao năng lực nội địa.

Ông Phan Thanh Sơn cũng cho rằng: Việt Nam cần sớm hình thành hệ sinh thái công nghệ đường sắt, trong đó các doanh nghiệp công nghệ trong nước đóng vai trò trung tâm, kết nối nguồn lực đầu tư, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Song song với đó là chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực Smart Mobility, thúc đẩy hợp tác theo mô hình 5P (Public - Private - Professional - People Partnership) phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà trường/viện nghiên cứu, xã hội và người dân nhằm đào tạo lực lượng kỹ sư và chuyên gia mới cho ngành giao thông trong kỷ nguyên AI.

Để tham gia sâu hơn vào lĩnh vực này, Tập đoàn đã thành lập đơn vị công nghệ chiến lược FPT Railway Mobility Technology vào cuối năm 2025, với định hướng phát triển các giải pháp công nghệ cho đường sắt, giao thông thông minh và đô thị thông minh. Doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành cùng Chính phủ, các địa phương và đối tác trong việc phát triển các giải pháp công nghệ cho Smart Metro và Smart TOD, đồng thời đóng vai trò cầu nối giữa hệ sinh thái công nghệ trong nước với các đối tác quốc tế.

baotintuc.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lào Cai ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi

Lào Cai ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi

Chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực, định hình lại diện mạo các ngành kinh tế. Đối với tỉnh Lào Cai, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp, đặc biệt là ngành chăn nuôi, được xác định là động lực trung tâm để hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững và hiện đại.

Lào Cai không để hồ sơ trễ hạn trong lĩnh vực đất đai

Lào Cai không để hồ sơ trễ hạn trong lĩnh vực đất đai

Cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, vốn được xem là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm luôn là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tại Lào Cai, với nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và hướng đến thực chất, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang nỗ lực kiểm soát tiến độ, giảm tối đa hồ sơ trễ hạn, từng bước xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch.

Hiệu quả từ số hóa hồ sơ, giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính

Hiệu quả từ số hóa hồ sơ, giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính

Trong tiến trình cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, việc số hóa hồ sơ, giấy tờ đang trở thành một trong những giải pháp trọng tâm, mang lại những chuyển biến rõ nét trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như trải nghiệm của người dân. Quá trình số hóa hồ sơ trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho thấy hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân.

"Dòng họ số" trên đỉnh Suối Giàng

"Dòng họ số" trên đỉnh Suối Giàng

Từ những thao tác còn bỡ ngỡ ban đầu, đến nay, mỗi gia đình trong dòng họ Giàng ở Suối Giàng (xã Văn Chấn) không chỉ làm quen với công nghệ mà đã trở thành những “công dân số” thực thụ. Sự thay đổi ấy đang mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào nơi đây.

Di sản và tri thức trong hành trình số hóa nâng cao

Di sản và tri thức trong hành trình số hóa nâng cao

Sau giai đoạn đẩy mạnh số hóa dữ liệu, các thiết chế văn hóa, đặc biệt là bảo tàng và thư viện tỉnh đang bước sang giai đoạn chuyển đổi số nâng cao. Không gian trưng bày, tra cứu và trải nghiệm được mở rộng trên môi trường số, giúp di sản và tri thức đến với công chúng nhanh hơn, gần hơn và phù hợp với xu hướng tiếp cận hiện đại.

Tăng "lá chắn số" cho phụ nữ, trẻ em vùng cao

Tăng "lá chắn số" cho phụ nữ, trẻ em vùng cao

An toàn thông tin mạng đang trở thành vấn đề sát sườn với đời sống của phụ nữ, trẻ em và người dân vùng cao. Từ những buổi tập huấn cụ thể, kiến thức pháp luật đang được “đưa tận tay” người dân, giúp họ chủ động bảo vệ mình trước các rủi ro trên không gian mạng.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn: Động lực đột phá trong cảnh báo thiên tai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn: Động lực đột phá trong cảnh báo thiên tai

Thiên tai ngày càng cực đoan, khó lường đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới phương thức dự báo, cảnh báo. Trong bối cảnh đó, công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn, trở thành động lực đột phá giúp nâng cao năng lực ứng phó, giảm thiểu thiệt hại.

Nơi nông sản địa phương khẳng định thương hiệu

Nơi nông sản địa phương khẳng định thương hiệu

Xuất phát từ thực tế nhiều nông sản địa phương có chất lượng tốt nhưng còn hạn chế trong tìm kiếm đầu ra và tiếp cận thị trường, mô hình “Chợ khởi nghiệp Online” do Câu lạc bộ Đầu tư và Khởi nghiệp Lào Cai khởi xướng đã ra đời, trở thành kênh kết nối hiệu quả trên nền tảng số. Không chỉ mở rộng thị trường, mô hình còn góp phần nâng cao kỹ năng kinh doanh, từng bước xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ, đưa nông sản địa phương vươn xa.

Chuyển đổi số nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

Chuyển đổi số nâng cao chất lượng công tác kiểm sát

Thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và Kế hoạch 226 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai đang từng bước đưa công nghệ số vào hoạt động chuyên môn. Từ số hóa hồ sơ, quản lý dữ liệu nghiệp vụ đến ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm sát hoạt động tư pháp, chuyển đổi số đã giúp cán bộ, kiểm sát viên xử lý công việc nhanh hơn, chính xác và minh bạch hơn.

fb yt zl tw