Chế phẩm sinh học, giải pháp để canh tác lúa gạo bền vững

Trước thách thức của biến đổi khí hậu, chi phí sản xuất tăng và nhu cầu thực phẩm an toàn ngày càng cao, việc sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác lúa đang trở thành xu hướng tất yếu. Đây được xem là giải pháp bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, hướng tới nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam.

Xu hướng giảm hóa chất, mở rộng sử dụng chế phẩm sinh học

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo năng suất và chất lượng cây trồng. Qua từng giai đoạn, thuốc BVTV đã trở thành một trong những giải pháp chủ lực giúp bảo vệ lúa khỏi sâu bệnh, cỏ dại, bảo vệ năng suất và ổn định sản xuất. Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là triển khai thành công các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), điển hình là các mô hình “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm” trên lúa. Các chương trình này đã góp phần ổn định năng suất, giảm chi phí và hạn chế phụ thuộc vào hóa chất.

Theo các chuyên gia, phát triển và sử dụng thuốc BVTV sinh học là xu hướng tất yếu phù hợp với yêu cầu của thị trường xanh toàn cầu. Giải pháp này không chỉ giúp giảm thiểu tác động của thuốc hóa học mà còn bảo vệ hệ sinh thái, khai thác lợi thế đa dạng sinh học phong phú của Việt Nam. Việc ưu tiên nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học là chìa khóa nâng cao giá trị gia tăng cho ngành lúa gạo.

bvtv-1.jpg

Sử dụng thuốc BVTV sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu trong sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL.

TS. Lại Tiến Dũng, Viện bảo vệ thực vật thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho biết, đến nay, Viện đã chuyển giao 25 quy trình sản xuất thuốc BVTV sinh học và 27 quy trình ứng dụng trong kiểm soát sâu bệnh. Các sản phẩm tiêu biểu gồm nấm xanh, nấm trắng, chế phẩm phòng trừ virus và nhiều nhóm sản phẩm ứng dụng rộng rãi trong sản xuất. Trong lĩnh vực canh tác lúa, Viện xác định 7 loài nấm ký sinh hiệu quả, nổi bật là nấm xanh và nấm tím phòng trừ rầy nâu. Gần đây, pheromone được thử nghiệm giám sát sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân đạt hiệu quả khả quan.

Theo TS. Lại Tiến Dũng, dù tiềm năng lớn, biện pháp sinh học vẫn gặp nhiều vướng mắc khi triển khai thực tế. Hệ thống tiêu chuẩn còn thiếu đồng bộ; thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu tác nhân sinh học phức tạp; nông dân vẫn còn hoài nghi khi áp dụng trên cây trồng. Thực tế tại Bến Tre (cũ) cho thấy, dù được hỗ trợ chế phẩm Bio-VAAS.1 để xử lý bệnh xì mủ sầu riêng, nhiều hộ vẫn dè dặt. Chỉ khi thử nghiệm trên những cây gần như bỏ đi và thấy hiệu quả thì người dân mới tin tưởng.

Cũng theo TS. Lại Tiến Dũng, điều quan trọng hiện này là tăng đầu tư cho nghiên cứu thuốc BVTV sinh học, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách khuyến khích ứng dụng, đồng thời đẩy mạnh tập huấn, chuyển giao để nâng cao niềm tin và năng lực áp dụng của nông dân. Trong bối cảnh chi phí sản xuất tăng, yêu cầu an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, biện pháp sinh học được xem là giải pháp bền vững giúp kiểm soát dịch hại an toàn và mở ra hướng phát triển nông nghiệp thân thiện môi trường.

bvtv-2.jpg

Việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong trồng trọt, kết hợp chế phẩm sinh học hướng tới nông nghiệp bền vững.

Dẫn chứng về số liệu dự báo Liên Hợp Quốc về dân số thế giới có thể đạt 9,8 tỷ người vào năm 2050, kéo theo sức ép lớn về sản lượng nông sản, chất lượng thực phẩm và khả năng tiếp cận của người dân. PGS.TS. Lê Văn Vàng, Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ cho biết, hiện nay an ninh lương thực gồm đủ số lượng, chất lượng và mọi người đều có thể tiếp cận đang đối mặt thách thức lớn khi biến đổi khí hậu và chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục đứt gãy. Tác động đặc biệt nghiêm trọng với các quốc gia ven biển và quốc đảo, nơi người dân nghèo thiếu khả năng chống chịu trước thiên tai, hạn mặn hay nắng nóng cực đoan.

Tại ĐBSCL, tư duy phụ thuộc thuốc hóa học vẫn phổ biến. Theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO), lượng thuốc BVTV của Việt Nam năm 2023 giảm 20% so với 2022, nhưng so với thập niên 1990 vẫn tăng khoảng 10%. Hiện nay, nhiều sản phẩm sinh học hiệu quả ngoài vẫn chưa được đăng ký lưu hành do tiêu chí đánh giá theo chuẩn hóa học.

PGS.TS. Lê Văn Vàng cho rằng, để thuốc sinh học trở thành trụ cột trong sản xuất cần tăng giám sát đồng ruộng; kết hợp linh hoạt hóa học, sinh học; đẩy mạnh truyền thông và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân; duy trì đầu tư dài hạn. Sử dụng thuốc sinh học không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu cho nông nghiệp Việt Nam.

Nông nghiệp khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế

Theo GS.TS Nguyễn Văn Tuất, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật BVTV Việt Nam, dịch hại trên lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm qua diễn biến phức tạp với rầy nâu, bệnh lem lép hạt, chuột và ốc bươu vàng. Cùng với diễn biến dịch hại, lượng thuốc BVTV sinh học đang có xu hướng tăng trở lại, hiện chiếm gần 20% tổng số thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam và tiếp tục tăng nhanh, nhiều địa phương đã ban hành chương trình phát triển thuốc sinh học, góp phần mở rộng diện tích ứng dụng.

GS.TS Nguyễn Văn Tuất cho biết, Việt Nam hiện có nhiều nhóm thuốc sinh học, với hơn 850 sản phẩm đăng ký. Mục tiêu đến 2025, tỷ lệ đăng ký thuốc sinh học đạt 30%, tỷ lệ sử dụng thực tế đạt 20%. Nhiều mô hình ứng dụng thuốc sinh học trên lúa ở Đồng Tháp, An Giang, Tây Ninh cho thấy hiệu quả tích cực. Hiện nay, các cơ quan chuyên môn đang rà soát, sửa đổi quy định nhằm khuyến khích việc sử dụng chế phẩm sinh học.

GS.TS. Nguyễn Văn Tuất nhận định, khi chất lượng sản phẩm được kiểm soát tốt và người dân được hướng dẫn đầy đủ, thuốc BVTV sinh học hoàn toàn có thể thay thế dần thuốc hóa học trong nhiều mô hình sản xuất. Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ và giảm tồn dư hóa chất trong nông sản.

bvtv-3.jpg

Theo đánh giá, biện pháp sinh học được xem là giải pháp bền vững giúp kiểm soát dịch hại an toàn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL, nhằm tạo hạt nhân cho một kỷ nguyên phát triển lúa gạo xanh và bền vững. Việc áp dụng chế phẩm sinh học ngày càng gia tăng, góp phần đảm bảo hạt gạo sạch, an toàn cho người tiêu dùng trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu cho doanh nghiệp và đất nước.

Ông Bùi Bá Bổng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam cho biết, thuốc BVTV đóng vai trò then chốt trong phát triển lúa gạo xanh và bền vững, đặc biệt là việc sử dụng các chế phẩm sinh học, vốn ngày càng được quan tâm và áp dụng rộng rãi. Mục tiêu là tạo ra những hạt gạo Việt Nam “xanh, sạch”, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trong nước và nâng cao giá trị xuất khẩu. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong trồng trọt, kết hợp chế phẩm sinh học, hướng tới mục tiêu thịnh vượng cho nông dân và bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai.

Sử dụng thuốc BVTV sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu trong sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL, giúp giảm hóa chất, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam đối với người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Với sự đồng hành của các nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân cùng đồng hành với nhau sẽ giúp ổn định năng suất, kiểm soát dịch hại hiệu quả, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, hướng tới sản xuất nông nghiệp xanh và bền vững.

vov.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Sín Chéng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa

Sín Chéng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa

Thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm, Hội Nông dân xã Sín Chéng đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân chuyển đổi những diện tích đất sản xuất phù hợp sang phát triển các loại cây có giá trị kinh tế.

Lào Cai: Tìm giải pháp cải thiện môi trường đầu tư từ Hội thảo tham vấn chính sách

Lào Cai: Tìm giải pháp cải thiện môi trường đầu tư từ Hội thảo tham vấn chính sách

Thời gian qua, tỉnh Lào Cai luôn quan tâm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, từng bước nâng cao chất lượng điều hành, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, việc tiếp tục nhận diện những điểm nghẽn từ thực tiễn, lắng nghe tiếng nói doanh nghiệp và hoàn thiện các giải pháp chính sách là cần thiết.

"Dân vận khéo" - chìa khóa vàng bứt tốc mục tiêu phát triển đường giao thông ở Mậu A

"Dân vận khéo" - chìa khóa vàng bứt tốc mục tiêu phát triển đường giao thông ở Mậu A

Hơn 5,4 tỷ đồng, 7.850 m2 đất và trên 700 ngày công lao động được người dân tự nguyện đóng góp chỉ trong thời gian ngắn là những con số biết nói minh chứng cho sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tại xã Mậu A trong "Chiến dịch 30 ngày đêm" xây dựng đường giao thông nông thôn.

Thanh niên Púng Luông khát vọng lập nghiệp trên quê hương

Thanh niên Púng Luông khát vọng lập nghiệp trên quê hương

Phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương, nhiều thanh niên xã Púng Luông đã mạnh dạn khởi nghiệp, phát triển kinh tế ngay trên quê hương. Từ nuôi ong lấy mật, trồng nông sản đến làm du lịch, các mô hình do thanh niên làm chủ không chỉ mang lại thu nhập ổn định mà còn tạo việc làm và lan tỏa khát vọng vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ Bệnh viện Đa khoa khu vực Bảo Yên

Tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ Bệnh viện Đa khoa khu vực Bảo Yên

Sáng 24/9, đoàn công tác do đồng chí Phí Công Hoan - Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai làm trưởng đoàn đã làm việc với xã Bảo Yên để tháo gỡ các vướng mắc về giấy phép môi trường, nghiệm thu, vận hành thử các hệ thống kỹ thuật, phấn đấu hoàn thành Dự án Bệnh viện Đa khoa khu vực Bảo Yên theo kế hoạch.

Niềm vui lớn sau hơn một thập niên chờ đợi

Niềm vui lớn sau hơn một thập niên chờ đợi

Sau hơn mười năm mòn mỏi chờ đợi trong niềm khắc khoải của bao thế hệ, tuyến đường bê tông nối từ Tỉnh lộ 152 đến hai thôn vùng cao Nậm Trà, Nậm Phảng thuộc xã Gia Phú (Lào Cai) đang từng ngày được hoàn thiện, xua tan những khó khăn và nhiều nguy hiểm, mở ra chương mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Số hóa tài sản công

Số hóa tài sản công

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh đứng trước yêu cầu cấp thiết phải quản lý, khai thác hiệu quả khối lượng lớn tài sản công, đặc biệt là các cơ sở nhà, đất dôi dư. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về tài sản công là giải pháp kỹ thuật, bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực công theo hướng minh bạch, hiện đại và bền vững.

Tập huấn phổ biến chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp và quy định về khuyến nông

Tập huấn phổ biến chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp và quy định về khuyến nông

Sáng 24/9, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị tập huấn phổ biến các nghị quyết, chính sách về phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn và các quy định về công tác khuyến nông cho gần 300 đại biểu là cán bộ làm nhiệm vụ khuyến nông, các hợp tác xã, nông dân xuất sắc tại 72 xã, phường.

Tạo “sức bền”cho nông sản

Tạo “sức bền”cho nông sản

Nhiều năm qua, tỉnh Lào Cai đã tận dụng hiệu quả lợi thế khí hậu và thổ nhưỡng đặc thù để chuyển dần từ phương thức canh tác truyền thống sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Trong hành trình đó, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) được coi là “đòn bẩy” quan trọng. Dẫu vậy, sau giai đoạn bùng nổ về số lượng, thực tế đòi hỏi nông sản địa phương phải chuyển nhanh từ mục tiêu “đạt chuẩn” sang “nâng hạng” và giữ vững thương hiệu trên thị trường.

Tạo lực đẩy cho công nghiệp hỗ trợ

Tạo lực đẩy cho công nghiệp hỗ trợ

Từ nhu cầu lớn của các nhà máy đến năng lực cung ứng còn hạn chế của doanh nghiệp trong tỉnh, Lào Cai đang có dư địa để phát triển công nghiệp hỗ trợ. Vấn đề đặt ra không chỉ là thu hút thêm dự án, mà quan trọng hơn là xác định đúng nhu cầu, tạo đơn hàng, nâng năng lực doanh nghiệp và từng bước đưa vật tư, phụ tùng, thiết bị, dịch vụ kỹ thuật vào chuỗi sản xuất ngay tại địa phương.

Chung sức mở đường, kết nối tương lai

Chung sức mở đường, kết nối tương lai

Trên địa bàn tỉnh, từ vùng thấp đến vùng cao, người dân đang cùng chính quyền chung tay mở đường bằng những việc làm rất cụ thể. Tất cả hướng đến những tuyến đường rộng hơn, thuận tiện hơn, phục vụ sự phát triển của quê hương.

Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo giờ, hóa đơn sẽ thay đổi thế nào?

Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo giờ, hóa đơn sẽ thay đổi thế nào?

Nếu giá điện sinh hoạt được tính theo thời gian sử dụng, hóa đơn của mỗi gia đình sẽ không chỉ phụ thuộc vào số điện tiêu thụ mà còn vào thời điểm dùng điện. Cơ chế này có thể giúp giảm áp lực giờ cao điểm, song đặt ra vấn đề về thói quen sinh hoạt, công tơ, hạ tầng dữ liệu và khả năng lựa chọn của người dân.

Chuẩn hóa phương án chi viện liên xã trong ứng phó với thiên tai

Chuẩn hóa phương án chi viện liên xã trong ứng phó với thiên tai

Từ những hạn chế của các địa phương trong xây dựng phương án phòng, chống thiên tai, tỉnh đã ban hành những chỉ đạo quyết liệt nhằm chấn chỉnh toàn diện công tác phòng, chống lụt bão. Qua đó, các địa phương đã khẩn trương bổ sung, triển khai phương án theo hướng vừa chủ động nguồn lực tại chỗ, vừa sẵn sàng các kịch bản phối hợp chặt chẽ với địa bàn lân cận trong ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

fb yt zl tw