Trước mắt tôi là những khóm lúa trĩu bông, hạt thóc to, tròn, đã vào chắc. Đứng giữa nương, có thể cảm nhận hương thơm nhẹ của lúa đang độ thu hoạch. Khác với hình dung quen thuộc về cây lúa trên những thửa ruộng có bờ giữ nước, ở đây, lúa mọc ngay trên sườn đồi. Giữa các khóm là khoảng đất để người trồng đưa cuốc vào làm cỏ.
Điều khiến người lần đầu đến nương như tôi tò mò lại là công việc quen thuộc của bà Tẩn Ú Mẩy ở thôn Bản Pho. Gia đình bà duy trì khoảng 1,5 ha lúa nương. Mỗi năm một vụ, từ làm đất, gieo hạt đến chăm sóc, chọn giống, phần lớn công việc dựa vào kinh nghiệm đã được gia đình tích lũy qua nhiều mùa sản xuất.
Bà Mẩy cho biết, làm lúa nương không có khâu gieo mạ, cấy lúa, mà tra lúa giống trực tiếp xuống nương, cũng không chủ động dẫn nước vào ruộng, cây lúa sinh trưởng nhờ những trận mưa.
Đất dốc khiến việc đi lại, làm đất, chăm sóc đều tốn sức. Đến mùa thu hoạch, người dân thu hái bằng phương pháp thủ công. Để đưa được thóc về nhà cũng khá vất vả. Nhưng với bà Mẩy, đó vẫn là cách sản xuất phù hợp khi diện tích ruộng nước hạn chế, còn đất canh tác của gia đình chủ yếu là đất đồi.
Năm nay, thời tiết có nhiều ngày nắng nhưng giống lúa gia đình bà Mẩy đang trồng chịu hạn tương đối tốt. So với năm trước, lúa không tốt bằng, song lại chắc hơn. Theo kinh nghiệm của bà, nhìn cây xanh tốt chưa đủ để biết kết quả một vụ lúa; phải chờ đến lúc bông vào chắc, người trồng mới phần nào yên tâm.
Cây lúa thích nghi với điều kiện tại chỗ cũng giúp gia đình giảm một phần chi phí chăm sóc. Bà Mẩy cho biết, gia đình ít phải đầu tư cho việc phòng trừ sâu bệnh. Tuy vậy, phụ thuộc vào nước trời đồng nghĩa với việc người trồng vẫn phải trông thời tiết trong suốt vụ sản xuất.
Rời thôn Bản Pho, tôi đến với gia đình bà Tẩn Nghính Liều ở thôn Tả Ngảo. Trên nương lúa rộng 5.000 m², cả gia đình đang tất bật thu hoạch. Từ xa, chúng tôi đã cảm nhận được hương lúa chín đậm theo từng đợt gió.
Đón chúng tôi bằng nụ cười tươi, bà Liều phấn khởi cho biết, vụ này lúa được mùa, hạt to, chắc, đẹp. Niềm vui còn đến từ giá bán, thóc nương hiện khoảng 15 nghìn đồng/kg; gạo sau khi xát khoảng 25 nghìn đồng/kg. Ngoài phần dành cho sinh hoạt, sản phẩm bán ra giúp gia đình có thêm nguồn thu sau một vụ chăm sóc.
Ở Bản Pho, 100% hộ duy trì trồng lúa nương, còn Tả Ngảo có khoảng 80% hộ trồng. Diện tích mỗi gia đình khác nhau, nhưng cây lúa vẫn được lựa chọn bởi phù hợp với đất đồi, đáp ứng nhu cầu sử dụng và nâng cao thu nhập cho bà con. Trên những sườn dốc không chủ động được nước tưới, kinh nghiệm canh tác cùng những giống lúa thích nghi với điều kiện tại chỗ đã giúp bà con duy trì sản xuất qua nhiều năm.
Với gia đình bà Liều, điều khiến bà gắn bó với lúa nương còn là vị gạo đã quen trong sinh hoạt hằng ngày. Giống lúa gia đình đang trồng cho hạt gạo hơi đỏ, sau khi xát, nấu lên thơm, dẻo. Sau mỗi vụ, bà để lại một phần thóc để ăn, phần còn lại bán cho người có nhu cầu.
Muốn giữ vị gạo ấy, ngay trong mùa thu hoạch, bà Liều đã phải lựa giống cho năm sau. Việc chọn cây, lựa bông đòi hỏi người trồng quan sát kỹ và hiểu giống lúa của mình.
Cứ như vậy, nguồn giống được gia đình giữ lại từ vụ này sang vụ khác. Qua mỗi lần lựa chọn, kinh nghiệm nhận biết cây, hạt và chất lượng gạo cũng được tích lũy. Với bà Liều, giữ giống vừa giúp chủ động cho mùa sản xuất tiếp theo, vừa giữ được loại gạo gia đình quen ăn và người mua ưa chuộng.
Ở góc độ địa phương, bà Đỗ Thị Giang - Chủ tịch Hội Nông dân xã Bát Xát đánh giá, lúa nương là sản phẩm có tiềm năng. Nhiều giống lúa bản địa được canh tác theo phương thức truyền thống, cho gạo có độ dẻo, thơm và hương vị đặc trưng. Dù chỉ sản xuất một vụ trong năm, loại gạo này vẫn gắn bó với đời sống, văn hóa ẩm thực của người dân vùng cao.
Bà Giang cho biết: “Thời gian tới, Hội Nông dân xã tiếp tục vận động hội viên duy trì, phát huy giá trị gạo nương; phối hợp với các ngành chức năng hỗ trợ nâng cao chất lượng, từng bước xây dựng thương hiệu và kết nối tiêu thụ sản phẩm”.
Hướng hỗ trợ ấy cần được cụ thể hóa để người trồng có thêm đầu ra và thu nhập tương xứng với công sức. Bởi hương vị riêng là lợi thế, còn hiệu quả một vụ sản xuất vẫn phải tính từ lượng thóc thực thu, chi phí, công lao động và giá bán.
Rời nương lúa, tôi nhớ những bông thóc to, mẩy và cách bà Liều lựa giống cho năm sau. Với người lần đầu biết đến lúa nương, đó là một cách canh tác đáng tìm hiểu. Với người dân vùng cao, đó là công việc đã quen qua nhiều vụ: lựa cây phù hợp với đất, giữ loại giống chất lượng và làm ra hạt gạo gia đình ưa thích để ăn, thực khách ưa chuộng để bán. Chính những nhu cầu thiết thực ấy đang tiếp tục giữ hạt gạo dẻo thơm trên những nương đồi.