Khai thác lợi thế biển, mở rộng không gian tăng trưởng
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, Việt Nam là quốc gia biển với vùng biển rộng gấp khoảng 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền và hơn 3.000 đảo, trong đó có 2.773 đảo ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi thuộc các đặc khu Hoàng Sa, Trường Sa.
Khoảng 85% số đảo ven bờ tập trung tại vùng biển sát bờ Quảng Ninh - Hải Phòng, tiếp đến là Khánh Hòa và An Giang. Đây là những khu vực có cảnh quan đẹp, đa dạng sinh học biển, giàu nguồn lợi hải sản và tài nguyên biển.
Bên cạnh đó, dải ven biển Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km (không tính bờ các đảo), chạy theo hướng Bắc - Nam, tạo lợi thế về vị trí hướng ra Biển Đông, nơi có các tuyến hàng hải ngày càng quan trọng đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và thế giới. Đây là những tiền đề quan trọng để Việt Nam vươn lên trở thành một “quốc gia biển mạnh”.
Đặc biệt, việc tổ chức lại không gian phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính cũng mở ra những cơ hội mới để khai thác lợi thế biển. PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi cho biết, cuộc "tổ chức lại lãnh thổ" đầu tháng 7/2025 đã tính đến những lợi thế từ biển. Sau khi hợp nhất, 21/34 tỉnh, thành phố có biển. Quy mô không gian biển của các tỉnh, thành phố có biển hoặc được giữ nguyên, hoặc được mở rộng.
Theo ông Hồi, đây là cơ hội để xây dựng mô hình tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu các tỉnh, thành phố có biển đóng góp khoảng 70% GDP cả nước vào năm 2030, với tốc độ tăng GRDP bình quân đạt trên 11%/năm, cùng với các mục tiêu văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ khác.
Trong khi đó, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước. Bên cạnh những lĩnh vực truyền thống, các ngành kinh tế mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics biển, kinh tế tuần hoàn biển và nuôi biển công nghệ cao được kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng.
Tuy nhiên, dư địa phát triển lớn không đồng nghĩa với khả năng tạo ra giá trị cao nếu vẫn duy trì tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần. Vấn đề đặt ra là phải gia tăng giá trị từ những lợi thế sẵn có thông qua công nghệ, đổi mới sáng tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, bài toán cốt lõi hiện nay là khả năng tạo ra giá trị cao hơn từ những nguồn lực đang có của các lĩnh vực như khai thác và nuôi trồng thủy hải sản, dầu khí, năng lượng tái tạo ngoài khơi, điện gió, du lịch biển, logistics và vận tải biển. Điều này đòi hỏi thay đổi căn bản tư duy phát triển.
"Kinh tế biển phải gắn với công nghệ, đổi mới sáng tạo, các mô hình kinh doanh mới và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu", TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.
Cùng với mục tiêu gia tăng giá trị, phát triển kinh tế biển phải bảo đảm tính bền vững, hài hòa lợi ích kinh tế, môi trường và người dân.
"Chúng ta phải làm sống động các ngành kinh tế biển, song vẫn phải gắn chặt với phát triển bền vững, cân bằng giữa tạo ra giá trị gia tăng và thích ứng với biến đổi khí hậu, kinh tế bao trùm để người dân được hưởng lợi từ thành quả phát triển kinh tế biển", TS. Võ Trí Thành nói thêm.
Hoàn thiện thể chế, công nghệ để vươn ra biển lớn
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế biển, theo TS. Võ Trí Thành, hạ tầng là điều kiện tiên quyết, bao gồm hệ thống cảng biển, logistics, hạ tầng năng lượng và kết nối vùng ven biển. Cùng với đó là các chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực, phát triển khoa học - công nghệ và nâng cao hiểu biết về luật pháp quốc tế.
"Việt Nam cần một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh. Hạ tầng là điều kiện tiên quyết, từ cảng biển, logistics đến năng lượng và kết nối vùng ven biển. Chính sách cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong đào tạo nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và nâng cao hiểu biết về luật pháp quốc tế", ông Võ Trí Thành nhận định.
Một nền tảng quan trọng khác là xây dựng hệ thống dữ liệu kinh tế biển đồng bộ, hiện đại. Theo ông, dữ liệu không chỉ phục vụ công tác quản trị mà còn là điều kiện để thu hút đầu tư và tiếp cận các nguồn lực tài chính quốc tế.
Ở góc độ chiến lược dài hạn, ông Thành cho rằng, kinh tế biển cần được đặt trong tư duy "Go Global". Biển vốn là không gian mở, gắn kết chặt chẽ với thương mại quốc tế và các chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì vậy, Việt Nam cần hình thành những doanh nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh ở quy mô khu vực và quốc tế trong các lĩnh vực logistics, vận tải biển, cảng biển, năng lượng và dịch vụ hàng hải.
Trong khi đó, theo PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, để biến tiềm năng thành lợi thế, biến lợi thế thành giá trị và động lực phát triển, Việt Nam phải lựa chọn cách tiếp cận chiến lược, vươn ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ”.
Trước hết, để làm chủ các vùng biển xa, biển sâu, cần chú trọng đầu tư phát triển và ứng dụng các công nghệ biển tiên tiến, dựa trên chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI).
Cùng với công nghệ, quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển cần sớm được triển khai nhằm giảm thiểu, tiến tới loại trừ những mâu thuẫn lợi ích và xung đột trong sử dụng không gian biển giữa các hoạt động kinh tế. Việc bố trí các hoạt động cũng phải bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các ngành, vừa tạo điều kiện phát triển, vừa duy trì các mối liên kết tự nhiên và kinh tế.
Một yêu cầu cấp thiết khác là tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, trước mắt là sớm điều chỉnh Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để đáp ứng yêu cầu theo tinh thần Nghị quyết 20.
PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng, hệ thống pháp luật cần hỗ trợ chuyển mạnh từ phương thức quản lý biển theo ngành sang quản trị tổng hợp và thống nhất không gian biển, trên cơ sở thay đổi tư duy, hình thành một triết lý phát triển biển, đảo mới.
“Mọi hoạt động kinh tế phải được đặt trong cùng một không gian phát triển, trong mối quan hệ liên ngành, được phân vùng chức năng rõ ràng, có cơ chế điều phối liên ngành và đánh giá tác động tổng hợp ngay từ khâu quy hoạch không gian biển. Khi đó, một vùng biển không còn chỉ phục vụ một mục tiêu hoặc một ngành riêng lẻ mà có thể đồng thời phát triển đa ngành, đa mục tiêu như năng lượng tái tạo, nuôi biển, du lịch sinh thái, cảng - hàng hải, y - dược biển và bảo tồn thiên nhiên biển... trên cơ sở hài hòa, tối ưu hóa lợi ích tổng thể của các ngành”, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi phân tích.
Nghị quyết 20 mở ra định hướng mới cho chiến lược phát triển kinh tế biển, trong đó trọng tâm không chỉ là khai thác những gì biển mang lại mà còn phải tạo ra những giá trị mới từ biển. Khi thể chế được khơi thông, công nghệ trở thành động lực và các ngành kinh tế được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất, lợi thế biển sẽ không chỉ là tiềm năng tự nhiên mà thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh.