Báo cáo việc làm Mỹ tháng 10 vượt xa dự báo đã kéo đồng USD và lợi suất trái phiếu đi lên, đồng thời tăng khả năng Fed nâng lãi suất trong tháng 12. Sau chuỗi phục hồi nhanh, thị trường vàng bước vào nhịp điều chỉnh với biên độ vẫn rất lớn.
Giá vàng hôm nay 6/11: Vàng thế giới biến động mạnh, SJC tăng phiên thứ tư
Giá vàng sáng 6/11 tiếp tục nhích lên, SJC đạt 139,5–142,5 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới giữ trên 4.000 USD/ounce nhưng biến động mạnh trước báo cáo việc làm Mỹ.
SJC giảm 1,5 triệu đồng/lượng, mất mốc 142 triệu đồng
Sáng 7/11, Công ty SJC niêm yết vàng miếng tại TP.HCM và miền Bắc ở mức 138 triệu đồng/lượng mua vào và 141 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 6/11, cả hai chiều cùng giảm 1,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán vẫn ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 7/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 6/11 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 138,00 | 141,00 | -1,50 / -1,50 |
| Miền Bắc | 138,00 | 141,00 | -1,50 / -1,50 |
Nhịp giảm sáng nay xuất hiện sau khi SJC phục hồi khá nhanh từ 139 triệu đồng/lượng ngày 2/11 lên 142,5 triệu đồng/lượng ngày 6/11. Với mức 141 triệu đồng hiện tại, giá đã trả lại 1,5 triệu đồng trong tổng số 3,5 triệu đồng tăng trước đó.
Tại DOJI, vàng miếng SJC cũng giảm 1,5 triệu đồng/lượng, xuống 138 - 141 triệu đồng/lượng.
Mức giảm mạnh hơn xuất hiện ở nhóm vàng nhẫn. KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng cùng giảm 2 triệu đồng/lượng, xuống 136,5 - 140,5 triệu đồng/lượng.
Vàng nguyên liệu và các dòng nữ trang giảm khoảng 1 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 7/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 6/11 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 138,00 | 141,00 | -1,50 / -1,50 |
| KIM TT/AVPL | 136,50 | 140,50 | -2,00 / -2,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 136,50 | 140,50 | -2,00 / -2,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 130,50 | 132,50 | -1,00 / -1,00 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 130,00 | 132,00 | -1,00 / -1,00 |
| Nữ trang 9999 | 134,50 | 138,50 | -1,00 / -1,00 |
| Nữ trang 999 | 134,00 | 138,00 | -1,00 / -1,00 |
| Nữ trang 99 | 132,20 | 136,50 | -1,00 / -1,00 |
PNJ cũng giảm vàng miếng SJC 1,5 triệu đồng/lượng, về 138–141 triệu đồng/lượng.
Nhẫn trơn PNJ 999.9, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và PNJ - Phượng Hoàng cùng mất 1,7 triệu đồng/lượng, xuống 136,3–140,3 triệu đồng/lượng.
Các dòng vàng nữ trang giảm khoảng 1,78–1,8 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 7/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 6/11 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 138,00 | 141,00 | -1,50 / -1,50 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 136,30 | 140,30 | -1,70 / -1,70 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 136,30 | 140,30 | -1,70 / -1,70 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 136,30 | 140,30 | -1,70 / -1,70 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 136,30 | 140,30 | -1,70 / -1,70 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 134,70 | 139,20 | -1,80 / -1,80 |
| Vàng nữ trang 999 | 134,56 | 139,06 | -1,80 / -1,80 |
| Vàng nữ trang 9920 | 131,89 | 138,09 | khoảng -1,78 / -1,78 |
| Vàng nữ trang 99 | 131,61 | 137,81 | khoảng -1,78 / -1,78 |
Bảo Tín Minh Châu hạ BTMC SJC về 136,5 triệu đồng/lượng mua vào và 141 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 6/11, chiều mua giảm 1,9 triệu đồng, còn chiều bán giảm 1,5 triệu đồng. Chênh lệch mua - bán theo đó tăng nhẹ lên 4,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 7/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 6/11 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 136,50 | 141,00 | -1,90 / -1,50 |
Tại Phú Quý, vàng miếng SJC giảm 1,5 triệu đồng/lượng xuống 137,5–141 triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 và Phú Quý 1 lượng 999.9 cùng giảm 1,5 triệu đồng, xuống 137,5–140,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 7/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 6/11 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 137,50 | 141,00 | -1,50 / -1,50 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 137,50 | 140,50 | -1,50 / -1,50 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 137,50 | 140,50 | -1,50 / -1,50 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 137,40 | 140,40 | -1,50 / -1,50 |
| Vàng trang sức 999.9 | 135,00 | 139,50 | -1,50 / -1,50 |
| Vàng trang sức 999 | 134,90 | 139,40 | -1,50 / -1,50 |
| Vàng trang sức 99 | 133,65 | 138,11 | khoảng -1,49 / -1,49 |
Như vậy, đà tăng khá mạnh của thị trường trong những ngày đầu tháng 11 đã tạm thời bị chặn lại.
Giá bán vàng miếng tại SJC, DOJI, PNJ và BTMC cùng về 141 triệu đồng/lượng; Phú Quý cũng niêm yết mức này.
Đáng chú ý, vàng nhẫn giảm mạnh hơn vàng miếng tại một số hệ thống. Nhẫn DOJI giảm tới 2 triệu đồng/lượng chỉ sau một ngày.
Vàng thế giới giảm sau báo cáo việc làm Mỹ vượt xa dự báo
Theo dữ liệu cập nhật sáng 7/11, giá vàng thế giới ở khoảng 4.070 USD/ounce, giảm 19 USD so với mức 4.089 USD/ounce ngày 6/11, tương đương khoảng 0,46%.
Biên độ ngày nằm trong khoảng 4.029–4.107 USD/ounce.
Phiên quốc tế vừa qua, vàng giao ngay giảm sau khi báo cáo việc làm tháng 10 của Mỹ cho kết quả mạnh hơn đáng kể so với dự báo. Giá có lúc rơi xuống khoảng 4.033 USD/ounce trước khi phục hồi về quanh 4.074 USD. Dù giảm trong phiên, vàng vẫn tăng khoảng 5,2% trong tuần, mức tăng tuần mạnh nhất kể từ tháng 8.
Nguyên nhân chính đến từ thị trường lao động Mỹ.
Nền kinh tế Mỹ tạo thêm 165.000 việc làm phi nông nghiệp trong tháng 10, cao gấp hơn 2,5 lần mức dự báo 65.000 của giới phân tích. Số liệu tháng 8 và tháng 9 cũng được điều chỉnh tăng tổng cộng 84.000 việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp đồng thời giảm từ 4,2% xuống 4,1%.
Các con số này cho thấy thị trường lao động Mỹ vẫn có sức chống chịu tốt, làm giảm áp lực để Fed phải sớm nới lỏng chính sách.
Xác suất Fed tăng lãi suất tháng 12 tăng mạnh trở lại
Sau báo cáo việc làm, thị trường nâng đáng kể kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Theo dữ liệu được Reuters dẫn lại, xác suất Fed nâng lãi suất trong cuộc họp tháng 12 tăng lên khoảng 81%, từ mức 72,8% ngay trước khi báo cáo việc làm được công bố.
Đồng USD sau đó tăng khoảng 0,7% lên mức cao nhất kể từ 29/10, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm cũng đi lên.
Đây là tổ hợp bất lợi đối với vàng. Đồng USD mạnh làm kim loại quý đắt hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác, còn lợi suất tăng khiến chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng - tài sản không tạo ra lãi suất - cao hơn.
Fed hiện vẫn duy trì lãi suất mục tiêu ở 3,75–4%. Dữ liệu CPI tháng 10 của Mỹ dự kiến công bố ngày 10/11 sẽ trở thành phép thử quan trọng tiếp theo đối với kỳ vọng lãi suất.
Giá dầu giảm mạnh trong tuần nhưng rủi ro Trung Đông vẫn còn
Thị trường năng lượng đang phát tín hiệu khá trái chiều.
Dầu Brent kết phiên gần nhất ở 98,32 USD/thùng và WTI ở 90,83 USD/thùng. Dù nhích nhẹ trong phiên, Brent vẫn hướng tới mức giảm khoảng 17% trong tuần, mạnh nhất kể từ thời kỳ đầu đại dịch COVID-19; WTI giảm khoảng 13%.
Giá dầu thấp hơn giúp giảm một phần sức ép lạm phát từ năng lượng, điều về lý thuyết có lợi cho vàng.
Tuy nhiên, các sự cố liên quan tàu chở dầu tại vùng Vịnh và nguy cơ xung đột Mỹ - Iran tái leo thang khiến thị trường chưa thể loại bỏ hoàn toàn phí rủi ro địa chính trị.
Vì vậy, dầu vẫn là một biến số quan trọng đối với kỳ vọng lạm phát và chính sách của Fed.
Dự báo giá vàng 7/11: Vùng 4.030 USD trở thành hỗ trợ quan trọng
Sau báo cáo việc làm Mỹ, vàng đã không giữ được vùng trên 4.100 USD nhưng lực mua xuất hiện khi giá lùi về quanh 4.030 USD.
Vùng 4.030–4.050 USD/ounce vì vậy có thể được xem là hỗ trợ gần trong ngắn hạn.
Nếu giá giữ được khu vực này, vàng có thể quay lại kiểm tra vùng 4.090–4.110 USD/ounce.
Nếu vượt 4.110 USD, kháng cự mạnh tiếp theo nằm quanh 4.140–4.150 USD/ounce, khu vực từng chặn đà tăng trong phiên 5/11.
Xa hơn, nếu 4.150 USD bị vượt qua một cách rõ ràng, vùng 4.175–4.200 USD có thể trở thành mục tiêu tiếp theo.
Ngược lại, nếu vàng xuyên dưới 4.030 USD, mốc tâm lý 4.000 USD sẽ là tuyến phòng thủ quan trọng.
Nếu 4.000 USD không giữ được, vùng 3.970–3.985 USD/ounce có thể được kiểm tra.
Biên độ tham khảo ngắn hạn có thể nằm khoảng 4.000–4.150 USD/ounce.
Kịch bản cơ sở hiện nghiêng về trạng thái giằng co và điều chỉnh sau chuỗi phục hồi nhanh. Báo cáo việc làm mạnh khiến kỳ vọng tăng lãi suất quay lại, nhưng giá dầu giảm và nhu cầu mua khi vàng điều chỉnh sâu có thể hạn chế mức giảm.
Với thị trường trong nước, SJC đang bán ra 141 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới giữ được trên 4.030 USD và phục hồi lên vùng 4.090–4.110 USD, giá bán SJC có thể dao động quanh 141–142 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng vượt 4.150 USD, SJC có khả năng lấy lại vùng 142,5–143 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu vàng quốc tế mất 4.000 USD, giá bán SJC có thể lùi về khoảng 139,5–140,5 triệu đồng/lượng.
Kịch bản tham khảo trong ngày 7/11 là giá bán SJC dao động quanh 140–142 triệu đồng/lượng.
Điểm đáng lưu ý là thị trường vẫn biến động rất nhanh. Chỉ trong vài ngày, SJC đã tăng từ 139 lên 142,5 triệu đồng rồi giảm lại 141 triệu đồng/lượng.
Vì vậy, người mua ngắn hạn cần đặc biệt lưu ý mức chênh mua - bán từ 3 đến 4,5 triệu đồng/lượng, bởi biên độ này làm tăng rủi ro nếu thị trường đảo chiều.
Nhìn tổng thể, vàng chưa mất hoàn toàn xu hướng phục hồi đầu tháng 11, nhưng báo cáo việc làm Mỹ đã khiến động lực tăng suy yếu đáng kể.
Vùng 4.030–4.050 USD sẽ là khu vực cần bảo vệ, trong khi 4.100–4.150 USD tiếp tục là vùng cản quyết định khả năng vàng nối lại đà tăng.