Vàng thế giới phục hồi mạnh sau khi đồng USD suy yếu hậu bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ. Trong nước, vàng miếng SJC tăng phiên thứ ba liên tiếp và lấy lại phần lớn mức giảm cuối tháng 10, nhưng triển vọng lãi suất Fed vẫn là lực cản đáng chú ý.
Giá vàng hôm nay 4/11/2026: Trong nước tiếp tục tăng dù thế giới giảm
Giá vàng trong nước sáng 4/11 tiếp tục phục hồi, SJC tăng lên 137,6 - 140,6 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới ngược chiều, lùi về khoảng 3.932 USD/ounce.
Giá vàng SJC tăng mạnh 1,8 triệu đồng/lượng
Sáng 5/11, Công ty SJC niêm yết vàng miếng tại TP.HCM và miền Bắc ở mức 139,4 triệu đồng/lượng mua vào và 142,4 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 4/11, cả hai chiều cùng tăng 1,8 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán vẫn duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng SJC ngày 5/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | So với 4/11 |
|---|---|---|---|
| TP.HCM | 139,40 | 142,40 | +1,80 / +1,80 |
| Miền Bắc | 139,40 | 142,40 | +1,80 / +1,80 |
Đây là phiên tăng thứ ba liên tiếp của SJC. Từ mức bán ra 139 triệu đồng/lượng ngày 2/11, giá đã tăng 3,4 triệu đồng/lượng lên 142,4 triệu đồng.
Mức hiện tại cũng chỉ còn thấp hơn 300.000 đồng/lượng so với giá 142,7 triệu đồng ngày 30/10, cho thấy phần lớn cú giảm cuối tháng trước đã được bù lại.
Tại DOJI, vàng miếng SJC tăng tương ứng 1,8 triệu đồng/lượng, lên 139,4 - 142,4 triệu đồng/lượng.
KIM TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tăng 1 triệu đồng/lượng, lên 136,5 - 140,5 triệu đồng/lượng.
Các dòng vàng nguyên liệu và nữ trang DOJI cũng tăng khoảng 1 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 5/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 4/11 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 139,40 | 142,40 | +1,80 / +1,80 |
| KIM TT/AVPL | 136,50 | 140,50 | +1,00 / +1,00 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 136,50 | 140,50 | +1,00 / +1,00 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 130,00 | 132,00 | +1,00 / +1,00 |
| Vàng nguyên liệu 999 | 129,50 | 131,50 | +1,00 / +1,00 |
| Nữ trang 9999 | 134,00 | 138,00 | +1,00 / +1,00 |
| Nữ trang 999 | 133,50 | 137,50 | +1,00 / +1,00 |
| Nữ trang 99 | 131,70 | 136,00 | +1,00 / +1,00 |
PNJ cũng tăng mạnh vàng miếng SJC 999.9 lên 139,4 - 142,4 triệu đồng/lượng, cao hơn 1,8 triệu đồng/lượng so với ngày trước.
Nhẫn trơn PNJ 999.9, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và PNJ - Phượng Hoàng cùng tăng 1,7 triệu đồng/lượng, lên 136,6 - 140,6 triệu đồng/lượng.
Nhóm vàng nữ trang tăng khoảng 1,78 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 5/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 4/11 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 139,40 | 142,40 | +1,80 / +1,80 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 136,60 | 140,60 | +1,70 / +1,70 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 136,60 | 140,60 | +1,70 / +1,70 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 136,60 | 140,60 | +1,70 / +1,70 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 136,60 | 140,60 | +1,70 / +1,70 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 134,50 | 139,00 | +1,80 / +1,80 |
| Vàng nữ trang 999 | 134,36 | 138,86 | +1,80 / +1,80 |
| Vàng nữ trang 9920 | 131,69 | 137,89 | khoảng +1,79 / +1,79 |
| Vàng nữ trang 99 | 131,41 | 137,61 | khoảng +1,78 / +1,78 |
Bảo Tín Minh Châu nâng giá BTMC SJC lên 136,8 triệu đồng/lượng mua vào và 142,4 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày trước, chiều mua tăng 1,5 triệu đồng, còn chiều bán tăng 1,8 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán vì vậy nới lên 5,6 triệu đồng/lượng.
Bảng giá Bảo Tín Minh Châu ngày 5/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 4/11 |
|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 136,80 | 142,40 | +1,50 / +1,80 |
Tại Phú Quý, vàng miếng SJC tăng 1,8 triệu đồng/lượng lên 137,8 - 142,4 triệu đồng/lượng.
Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 và Phú Quý 1 lượng 999.9 cùng tăng 1,8 triệu đồng/lượng, đạt 137,8 - 140,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm vàng trang sức tăng khoảng 1,5 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 5/11/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | So với 4/11 |
|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 137,80 | 142,40 | +1,80 / +1,80 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 137,80 | 140,80 | +1,80 / +1,80 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 137,80 | 140,80 | +1,80 / +1,80 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 137,70 | 140,70 | +1,80 / +1,80 |
| Vàng trang sức 999.9 | 135,00 | 139,50 | +1,50 / +1,50 |
| Vàng trang sức 999 | 134,90 | 139,40 | +1,50 / +1,50 |
| Vàng trang sức 99 | 133,65 | 138,11 | khoảng +1,49 / +1,49 |
Nhìn tổng thể, đà tăng sáng 5/11 khá đồng đều. Giá bán vàng miếng SJC tại SJC, DOJI, PNJ, BTMC và Phú Quý cùng lên 142,4 triệu đồng/lượng.
Đây là mức phục hồi đáng chú ý nếu đặt cạnh vùng 139 triệu đồng chỉ ba ngày trước.
Vàng nhẫn cũng tăng nhưng vẫn thấp hơn vàng miếng. DOJI bán nhẫn ở 140,5 triệu đồng/lượng, PNJ 140,6 triệu đồng và Phú Quý 140,8 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới bật mạnh trở lại trên 4.000 USD
Theo dữ liệu cập nhật sáng 5/11, giá vàng thế giới ở khoảng 4.065 USD/ounce, tăng 133 USD so với mức 3.932 USD/ounce ngày 4/11.
Mức tăng tương đương khoảng 3,38%.
Biên độ đầu ngày nằm trong khoảng 4.060 - 4.065 USD/ounce. Việc vàng lấy lại mốc 4.000 USD và duy trì trên 4.060 USD là thay đổi đáng kể so với trạng thái giằng co dưới 3.950 USD một ngày trước.
Trong phiên quốc tế ngày 4/11, vàng giao ngay đã tăng hơn 3%, có thời điểm lên gần 4.060 USD/ounce. Đây là phiên tăng mạnh nhất kể từ giữa tháng 8.
Một động lực lớn đến từ sự suy yếu của đồng USD sau kết quả bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ. Đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát cả Hạ viện và Thượng viện, tạo ra thế chính quyền chia rẽ với Nhà Trắng do đảng Cộng hòa kiểm soát.
Thị trường đánh giá bối cảnh mới có thể khiến việc thông qua các chính sách lớn trở nên khó khăn hơn, qua đó giảm một phần kỳ vọng tăng trưởng và gây sức ép lên đồng USD.
Đồng USD giảm làm vàng trở nên rẻ hơn đối với nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác, từ đó hỗ trợ nhu cầu đối với kim loại quý.
Fed vẫn là lực cản lớn dù USD suy yếu
Dù vàng phục hồi mạnh, bài toán lãi suất chưa biến mất.
Thị trường hiện đánh giá xác suất Fed tăng ít nhất 0,25 điểm phần trăm trong cuộc họp tháng 12 ở mức trên 80%.
Fed đã giữ lãi suất trong vùng 3,75 - 4% tại cuộc họp tháng 10 nhưng lạm phát vẫn cao và các số liệu kinh tế Mỹ chưa cho thấy nền kinh tế suy yếu rõ rệt.
Báo cáo việc làm khu vực tư nhân mới nhất cho thấy Mỹ tạo thêm 86.000 việc làm trong tháng 10, cao hơn dự báo khoảng 69.000.
Điều này tiếp tục củng cố quan điểm rằng Fed chưa chịu áp lực phải nhanh chóng nới lỏng chính sách tiền tệ.
Trong ngày 6/11 theo giờ Mỹ, thị trường sẽ tiếp tục theo dõi báo cáo việc làm phi nông nghiệp. Đây có thể là dữ liệu quan trọng quyết định vàng có giữ được vùng trên 4.000 USD hay không.
Nếu thị trường lao động tiếp tục mạnh, kỳ vọng Fed tăng lãi suất tháng 12 có thể tăng thêm, gây sức ép lên vàng.
Ngược lại, báo cáo việc làm yếu hơn dự báo có thể khiến USD và lợi suất trái phiếu giảm, qua đó hỗ trợ vàng tiếp tục đi lên.
Giá dầu lao dốc, giảm bớt một phần áp lực lạm phát
Một diễn biến rất đáng chú ý khác đến từ thị trường dầu.
Dầu Brent kết phiên 4/11 giảm 8,7%, xuống 94,62 USD/thùng. WTI mất 8,3%, còn 88,12 USD/thùng. Đây là mức thấp nhất của hai loại dầu kể từ cuối tháng 8.
Sự sụt giảm mạnh xuất hiện sau kết quả bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ, khi thị trường tăng kỳ vọng Quốc hội mới có thể tạo sức ép thúc đẩy một giải pháp ngoại giao cho cuộc chiến với Iran.
Giá dầu giảm sâu là một yếu tố hỗ trợ vàng theo hướng gián tiếp.
Năng lượng rẻ hơn có thể giúp giảm áp lực lạm phát, qua đó hạn chế nhu cầu Fed phải nâng lãi suất mạnh hơn trong tương lai.
Tuy nhiên, căng thẳng tại Trung Đông chưa kết thúc hoàn toàn. Các rủi ro liên quan eo biển Hormuz và những vụ việc nhằm vào hoạt động vận tải dầu vẫn tồn tại.
Vì vậy, thị trường năng lượng vẫn có khả năng biến động mạnh trong thời gian tới.
Dự báo giá vàng 5/11: Sau cú tăng mạnh, vùng 4.100 USD trở thành thử thách mới
Việc vàng tăng từ khoảng 3.932 lên 4.065 USD/ounce trong thời gian ngắn cho thấy xu hướng ngắn hạn đã cải thiện đáng kể.
Mốc 4.000 USD từ vùng kháng cự đã trở lại thành vùng hỗ trợ tâm lý.
Trong ngắn hạn, vùng 4.040 - 4.050 USD/ounce có thể được theo dõi như hỗ trợ gần.
Nếu giá giữ được trên khu vực này, vàng có thể tiếp tục kiểm tra vùng 4.075 - 4.085 USD/ounce.
Kháng cự đáng chú ý nhất nằm ở 4.095 - 4.100 USD/ounce.
Nếu vượt được 4.100 USD một cách rõ ràng, vàng có thể mở rộng nhịp phục hồi lên vùng 4.125 - 4.150 USD/ounce.
Ở chiều ngược lại, nếu áp lực chốt lời xuất hiện và giá mất 4.040 USD, vùng 4.015 - 4.025 USD sẽ trở thành hỗ trợ tiếp theo.
Nếu vàng mất luôn 4.000 USD, tín hiệu phục hồi sẽ suy yếu đáng kể và vùng 3.970 - 3.980 USD có thể được kiểm tra lại.
Biên độ tham khảo ngắn hạn trong ngày 5/11 có thể nằm khoảng 4.015 - 4.110 USD/ounce.
Kịch bản cơ sở hiện nghiêng về việc vàng tiếp tục duy trì trên 4.000 USD nhưng tốc độ tăng có thể chậm lại sau phiên tăng hơn 3%.
Đối với thị trường trong nước, SJC đã tăng nhanh lên 142,4 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới giữ trên 4.050 USD và tiến tới 4.100 USD, giá bán SJC có thể kiểm tra vùng 142,5 - 143,5 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng quốc tế vượt rõ 4.100 USD, vùng 144 triệu đồng/lượng có thể trở lại tầm quan sát.
Ngược lại, nếu giá thế giới điều chỉnh xuống dưới 4.020 USD, SJC có thể lùi về khoảng 141,5 - 142 triệu đồng/lượng.
Kịch bản tham khảo trong ngày 5/11 là giá bán SJC dao động quanh 142 - 143,5 triệu đồng/lượng.
Điểm người mua cần lưu ý là giá đã phục hồi rất nhanh. SJC tăng 3,4 triệu đồng/lượng chỉ trong ba ngày, trong khi mức chênh mua - bán vẫn từ 3 triệu đến trên 5 triệu đồng/lượng tùy thương hiệu.
Vì vậy, giao dịch ngắn hạn tại vùng giá hiện tại cần đặc biệt chú ý nguy cơ chốt lời sau một phiên tăng mạnh.
Nhìn tổng thể, xu hướng của vàng đã tích cực hơn rõ rệt khi giá thế giới lấy lại 4.000 USD và SJC trở lại trên 142 triệu đồng/lượng.
Tuy nhiên, vùng 4.100 USD là phép thử tiếp theo. Nếu vượt được khu vực này, đà phục hồi có thể mở rộng; nếu không, vàng có khả năng bước vào một nhịp tích lũy hoặc điều chỉnh sau cú tăng nhanh.