Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành quyết định đấu giá sử dụng băng tần 4G và 5G

Ngày 21/2/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) ban hành quyết định về việc phê duyệt phương án tổ chức đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện đối với băng tần 2300-2400MHz, cho hệ thống thông tin di động 4G và 5G.

Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành quyết định đấu giá sử dụng băng tần 4G và 5G ảnh 1
5G có khả năng đóng góp vào sự tăng trưởng GDP của Việt Nam từ 7,3% đến 7,4%, bởi công nghệ này có thể nâng cao năng suất lao động, hiệu suất làm việc của doanh nghiệp.

Theo đó, điều kiện tham gia đấu giá được quy định tại Điều 11 Nghị định số 88 của Chính phủ, quy định về thu tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện, đấu giá, cấp phép, chuyển nhượng quyền sử dụng tần số vô tuyến điện đối với băng tần cũng như tuân thủ quy định của pháp luật về viễn thông đối với sở hữu trong kinh doanh dịch vụ viễn thông, hình thức, điều kiện và tỷ lệ phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài.

Doanh nghiệp tham gia đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện đối với băng tần 2300-2400 MHz có thể triển khai mạng và dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ IMT-Advanced (4G) hoặc IMT-2020 (5G). Doanh nghiệp tham gia đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện đối với băng tần 2300-2400 MHz theo nguyên tắc triển khai công nghệ nào (căn cứ hồ sơ đề nghị xét duyệt đủ điều kiện tham gia đấu giá), sẽ áp dụng yêu cầu triển khai mạng viễn thông với công nghệ tương ứng (IMT-Advanced/ IMT-2020).

Quyết định chỉ rõ, băng tần đấu giá là băng tần 2300-2400 MHz. Băng tần này được quy hoạch cho hệ thống thông tin di động mặt đất IMT của Việt Nam theo Thông tư 29 của Bộ trưởng Bộ TT&TT. Cụ thể, các khối băng tần đấu giá gồm: A1: 2300 - 2330 MHz; A2: 2330 - 2360 MHz; A3: 2360 - 2390 MHz.

Ngoài ra, khối băng tần 2390-2400 MHz được quy hoạch làm băng tần bảo vệ, không đấu giá cho hệ thống thông tin di động mặt đất IMT tại cuộc đấu giá này. 

Theo quyết định này, doanh nghiệp trúng đấu giá băng tần 2300-2400 MHz được cấp giấy phép sử dụng với thời hạn 15 năm và được sử dụng để triển khai hệ thống thông tin di động mặt đất theo tiêu chuẩn IMT-Advanced.

Các doanh nghiệp được cấp phép sử dụng các khối băng tần khác nhau trong cùng băng tần 2300-2400 MHz phải tuân thủ các quy định, điều kiện kỹ thuật sử dụng băng tần được cấp phép như sau: Tuân thủ các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia có liên quan về thiết bị thu phát vô tuyến điện, an toàn bức xạ và tương thích điện từ trường; Có trách nhiệm phối hợp với nhau để tránh can nhiễu có hại, đồng bộ về khung dữ liệu của phương thức TDD và thực hiện đúng các nội dung của giấy phép sử dụng băng tần theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 29/2021/TT-BTTTT, ngày 31/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Phối hợp với tổ chức được cấp giấy phép ở băng tần liền kề trong việc sử dụng tần số vô tuyến điện và phòng tránh nhiễu có hại; Phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện việc phối hợp sử dụng tần số biên giới để tránh can nhiễu có hại; Thực hiện các quy định khác của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Theo Quyết định, giá khởi điểm được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 88 của Chính phủ quy định về thu tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện, đấu giá, cấp phép, chuyển nhượng quyền sử dụng tần số vô tuyến điện đối với băng tần. Giá khởi điểm của khối băng tần được xác định như sau: GKĐ = MTCSMHz × Bw × T.

Trong đó: GKĐ là giá khởi điểm, đơn vị tính bằng Đồng Việt Nam; MTCSMHz là mức thu cơ sở được xác định, quyết định theo Điều 4 và Điều 5  Nghị định 88/2021/NĐ-CP. Theo Điều 1 Quyết định 120/QĐ-BTTTT ngày 8/2/2023 của Bộ trưởng Bộ TT&TT về việc mức thu cơ sở đối với băng tần 2300-2400 MHz, mức thu cơ sở đối với băng tần 2300-2400 MHz là 12,88 tỷ đồng cho một MHz cho một năm được phép sử dụng); Bw là độ rộng của khối băng tần cần xác định giá khởi điểm: 30 MHz; T là thời gian được phép sử dụng băng tần: 15 năm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được biên bản đấu giá, Bộ trưởng Bộ TT&TT ra quyết định phê duyệt kết quả đấu giá và công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ TT&TT.

Theo các nhà cung cấp thiết bị viễn thông quốc tế, 5G sẽ là hạ tầng số gần như thay thế cơ sở hạ tầng vật lý trong việc xây dựng nền tảng cũng như kết nối xã hội tương lai. Cơ sở hạ tầng số này tạo ra kết nối không chỉ giữa con người với con người mà còn giữa con người với máy móc, giữa máy móc với máy móc. Đó là những cơ sở tạo ra tự động hóa cũng như việc chuyển đổi giữa các ngành công nghiệp.

Tuy nhiên, giới chuyên gia viễn thông quốc tế cho rằng đối với Việt Nam, 4G vẫn còn quan trọng và tồn tại trong khoảng thời gian nữa. Việc tiếp tục đầu tư vào 4G cũng rất quan trọng bởi trong vài năm tới, 4G vẫn là mạng phổ biến. Nhưng 5G sẽ được triển khai ở các điểm nóng, khu công nghiệp, thành phố lớn và sau đó có thể phát triển nhanh từ năm 2025. Đến năm 2030, 5G dự kiến đem lại cho các nhà khai thác Việt Nam doanh thu 1,5 tỷ USD.

Vietnamnet

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Chuyển đổi số - "đòn bẩy" để hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh

Chuyển đổi số - "đòn bẩy" để hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh

Trước sức bật từ sự phục hồi mạnh mẽ sau dịch Covid-19 cùng sức ép cạnh tranh với các điểm đến trong khu vực, ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước giai đoạn phát triển mới, nơi công nghệ số đóng vai trò là "đòn bẩy" để đổi mới cách thức quản lý, kinh doanh và phục vụ du khách. Qua đó, đưa du lịch ngày càng phát triển bền vững.

"Chìa khóa" thu hẹp khoảng cách số

"Chìa khóa" thu hẹp khoảng cách số

Phong trào “Bình dân học vụ số” tại Lào Cai đang tạo chuyển biến rõ rệt, giúp người dân và đội ngũ cán bộ cơ sở từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực số, thích ứng với yêu cầu quản lý và phục vụ trong thời đại chuyển đổi số.

Mua sắm Tết online

Mua sắm Tết online

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, khi nhịp sống cuối năm trở nên hối hả, không khí mua sắm trên địa bàn tỉnh Lào Cai cũng bước vào cao điểm. Bên cạnh hình ảnh quen thuộc tại các chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng, một “chợ Tết” khác đang hình thành ngay trên không gian số.

Bản Lầu đẩy mạnh công nghệ số phục vụ người dân

Bản Lầu đẩy mạnh công nghệ số phục vụ người dân

Sau khi sáp nhập từ ba đơn vị hành chính cũ, xã biên giới Bản Lầu, tỉnh Lào Cai phải đối mặt với bài toán quản lý trên địa bàn rộng, dân số đông và điều kiện tự nhiên phức tạp. Để khắc phục khó khăn, địa phương lựa chọn chuyển đổi số làm khâu đột phá, từng bước đưa công nghệ vào thực tiễn quản lý, điều hành và phục vụ đời sống Nhân dân, góp phần hiện đại hóa nền hành chính công ở cơ sở.

Nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng ứng dụng định danh điện tử VNeID mức độ 2

Nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng ứng dụng định danh điện tử VNeID mức độ 2

Định danh điện tử VNeID mức độ 2 đang từng bước trở thành “chìa khóa số” quen thuộc trong đời sống người dân Lào Cai. Để hoàn thành mục tiêu đến năm 2026 có 90% người trưởng thành sở hữu tài khoản định danh điện tử mức độ 2, công an các địa phương trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ.

Chuyển đổi số trong hoạt động chuyên môn và quản lý

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai: Chuyển đổi số trong hoạt động chuyên môn và quản lý

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, công tác chuyển đổi số trong hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai nói riêng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo chuyển biến rõ nét trong hoạt động chuyên môn và quản lý.

Khoa học mở lối cho nông nghiệp Lào Cai

Khoa học mở lối cho nông nghiệp Lào Cai

Với sự đồng hành của khoa học công nghệ cùng tinh thần đổi mới, sáng tạo của nông dân, Lào Cai đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp xanh, sạch, bền vững - vừa làm giàu cho người dân, vừa giữ gìn cảnh quan, môi trường và bản sắc.

Nhà nông "bén duyên" với công nghệ số

Nhà nông "bén duyên" với công nghệ số

Từ sản xuất manh mún, phụ thuộc vào thương lái, nhiều nhà nông trên địa bàn tỉnh đã từng bước làm quen, rồi “bén duyên” với công nghệ số để tổ chức lại sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ. Việc ứng dụng công nghệ số từ khâu sản xuất, tiêu thụ đến thanh toán không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra mà còn hình thành tư duy làm kinh tế nông nghiệp hiện đại, thích ứng với cơ chế thị trường.

fb yt zl tw