Trái ngọt miền biên ải

LCĐT - Một ngày cuối năm 2021, Bí thư Huyện ủy Mường Khương Giàng Quốc Hưng lựa chọn con đường vành đai biên giới từ Bản Lầu lên thị trấn Mường khương để thực hiện chuyến khảo sát, đánh giá hiệu quả kinh tế từ cây dứa, cây chuối, cây quýt và một số cây trồng khác. Thật hiếm có dịp may mắn để tôi và ông Hoàng Chúng (Chủ tịch UBND huyện Mường Khương giai đoạn 1988 - 1998) được tham gia chuyến đi này.

Vùng dứa tỏa hương

Từ trung tâm huyện, chúng tôi xuôi về Bản Lầu, vùng đất trên dải biên thùy khiêm nhường và lặng lẽ, từ lao động, sản xuất đã làm nên thương hiệu dứa Bản Lầu.

Đi trên con đường vành đai biên giới qua các thôn Na Mạ rồi chạy qua các thôn Đồi Gianh, Pạc Bo… đâu đâu cũng gặp bạt ngàn dứa. Chúng tôi dừng xe ghé thăm, vui với bà con thôn Pạc Bo đang thu hoạch vụ dứa cuối cùng trong năm. Trưởng thôn Lý Văn Lộc cho biết: Tất cả 132 hộ thôn này đều trồng dứa. Năm nay, chất lượng quả tốt, giá cả hợp lý, thu hoạch đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Những năm qua, nhờ có thu nhập từ quả dứa mà đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, số hộ nghèo chỉ còn khoảng 5,8%...

Thăm vùng dứa thôn Pạc Bo, xã Bản Lầu.
Thăm vùng dứa thôn Pạc Bo, xã Bản Lầu.

Từ khi một số bà con người Mông đầu tiên ở các xã Dìn Chin, Tả Ngài Chồ đến các thôn Na Lốc, Cốc Phương lập nghiệp vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, mảnh đất biên cương đến nay đã thay đổi với sự no ấm, trù phú. Dọc theo đường biên giới thuộc khu vực xã Bản Lầu với hơn 800 hộ đồng bào dân tộc (chủ yếu là Mông, Dao) sinh sống, người dân được Nhà nước hỗ trợ chuyển đổi diện tích trồng ngô, lúa kém hiệu quả sang trồng dứa, chuối, giúp tăng thu nhập bình quân lên 30 - 50 triệu đồng/hộ/năm. Rất nhiều hộ có thu nhập từ trồng dứa, chuối lên đến 500 triệu đồng/năm.

Theo “gợi ý” của ông Hoàng Chúng, đoàn công tác của huyện ghé thăm gia đình ông Thào Dìn, hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi. Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà khang trang, với bộ bàn ghế đắt tiền, ông Thào Dìn, nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Trưởng thôn Cốc Phương tâm sự: Năm 1989, gia đình tôi cùng 24 hộ từ xã Tả Ngài Chồ và xã Dìn Chin về đây lập nghiệp. Cuộc sống ngày ấy cơm không đủ ăn, quần áo không đủ mặc, nói gì đến chuyện học hành của con cái. Lúc bấy giờ, thấy người dân Hà Khẩu (Trung Quốc) trồng cây dứa có hiệu quả kinh tế cao, một số người đã sang đó làm thuê, tôi cũng đi theo. Vừa làm thuê, vừa học hỏi cách trồng, cách chăm sóc cây dứa, rồi tôi quyết định mua vài nghìn cây giống về trồng thử ở Na Lốc. “Na Lốc, Cốc Phương thay đổi nhiều lắm! Thôn có nhiều hộ từ nghèo đói đã vươn lên giàu có nhờ trồng dứa, như Giàng Chúng, Sùng Sử, Thào Thắng, Thào Minh, Thào Sang, Sùng Phử... Một số hộ xây nhà ở kiên cố, mua sắm được xe ô tô tải làm dịch vụ vận tải” - ông Thào Dìn hồ hởi nói.

Trao đổi với đoàn công tác, đồng chí Dương Hồng Trung, Bí thư Đảng ủy xã Bản Lầu cho biết thêm: Bản Lầu có 7/20 thôn, bản giáp biên giới. Xã có 1.628 hộ với 7.568 nhân khẩu thuộc 14 dân tộc anh em, trong đó có 1.000 hộ trồng dứa với 750 ha. Cây dứa không chỉ góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững, mà còn là cây làm giàu cho hàng trăm hộ. Trong những năm gần đây, Bản Lầu còn chú trọng phát triển cây chuối với diện tích hiện đạt 150 ha, thu nhập hàng năm của người trồng chuối trên địa bàn xã có thể đạt 15 tỷ đồng, bằng một nửa giá trị trồng chuối toàn huyện. Dự kiến năm 2021, sản lượng dứa Bản Lầu có thể đạt 14.000 tấn, đem lại thu nhập trên 70 tỷ đồng cho người trồng.

Chuối trên vùng đất Nậm Chảy

Vượt qua thôn Cốc Lầy của xã Lùng Vai, chúng tôi lạc vào giữa bạt ngàn chuối thuộc xã Nậm Chảy.

Đoàn công tác đến thăm gia đình chị Lù Thị Lan ở thôn Sấn Pản, một trong những hộ có quy mô canh tác chuối lớn nhất xã Nậm Chảy. Trong ngôi nhà 2 tầng khang trang vừa mới hoàn thiện, chị Lan phấn khởi: Những năm qua, gia đình tôi được vay vốn trồng hơn 3.000 gốc chuối. Từ năm 2018 đến nay, mỗi năm gia đình tôi thu nhập 250 - 300 triệu đồng. Năm 2021, gia đình tôi đầu tư trồng thêm gần 2.000 gốc chuối, diện tích này dự kiến năm 2022 cho thu quả.

Theo Bí thư Đảng ủy xã Nậm Chảy Ma Chiến Phúc, Nậm Chảy có 14 thôn, trong đó nhiều thôn trải dọc biên giới. Xã hiện có 368 ha chuối, đem lại nguồn thu ổn định cho nhiều hộ. Xác định chuối là một trong những cây trồng chủ lực, xã Nậm Chảy định hướng mở rộng diện tích trồng chuối từ 368 ha lên 400 ha.

Niềm vui của vợ chồng anh Làn Mậu Thành, thị trấn Mường Khương.
Niềm vui của vợ chồng anh Làn Mậu Thành, thị trấn Mường Khương.

Quýt ngọt xứ Mường

Điểm dừng chân cuối cùng của đoàn công tác là tại vùng quýt thị trấn Mường Khương. Trước mắt chúng tôi là bạt ngàn quýt thuộc các thôn Sả Hồ, Dì Thàng, Sa Pả, Chúng Chải A, Chúng Chải B... Thấp thoáng dưới làn mây phủ là những bản làng trù phú của đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Pa Dí, Tu Dí… đang vào vụ thu hoạch quýt.

Nông dân Làn Mậu Thành, dân tộc Tu Dí, ở thôn Sả Hồ được mệnh danh là người mở đường cho cây quýt bén rễ, kết trái trên đất Mường Khương. Anh Làn Mậu Thành chia sẻ: Cuộc sống của gia đình tôi trước đây rất khó khăn, chỉ biết trồng ngô trên đất cằn cỗi, thế rồi thấy một số vùng có khí hậu tương tự phát triển được giống quýt ngọt, tôi quyết tâm học trồng bằng được.

Năm 2002, sau thời gian dài học tập kỹ thuật, anh Thành đã mạnh dạn đầu tư trồng thí điểm 2.000 cây quýt trên nương của gia đình. Năm 2006, vợ chồng anh thu hoạch vụ quýt đầu tiên. Tuy năng suất chưa cao, nhưng hàng chục triệu đồng thu về từ cây quýt đã tiếp thêm cho anh động lực. Từ năm 2009, vợ chồng anh mở rộng diện tích trồng quýt lên gấp đôi, gấp ba, đến nay tổng diện tích trồng quýt của gia đình đạt 6 ha. Gia đình anh còn đầu tư sản xuất giống quýt, bưởi, ổi với quy mô 7 ha. Anh Làn Mậu Thành cho biết: Từ năm 2015 đến nay, mỗi năm gia đình thu hoạch 50 - 100 tấn quả, nguồn thu từ bán quả quýt và cây giống các loại đạt khoảng 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/năm.

Bí thư Đảng ủy thị trấn Mường Khương Phạm Văn Năm cho biết: Thị trấn Mường Khương có 29 thôn, bản với 2.489 hộ, 10.064 nhân khẩu thuộc 11 dân tộc anh em. Đến năm 2019, thị trấn Mường Khương đã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, tỷ lệ hộ nghèo còn 9%... Thị trấn Mường Khương có 368 hộ trồng 232 ha quýt (chiếm 1/4 diện tích quýt toàn huyện), trong đó khoảng 155 ha quýt trồng theo tiêu chuẩn VietGAP. Năm 2021, thị trấn Mường Khương thu được 1.440 tấn quýt, giá trị đạt 21,6 tỷ đồng. Gần 20 năm qua, sản phẩm quýt Mường Khương đã khẳng định chất lượng, uy tín trên thị trường, được người tiêu dùng lựa chọn. Quýt Mường Khương đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận thương hiệu vào năm 2017...

Đoàn công tác của huyện kết thúc chuyến khảo sát, đánh giá tình hình chung về cây ăn quả dọc tuyến biên giới qua các xã, thị trấn. Bí thư Huyện ủy Giàng Quốc Hưng kết luận: Trong chặng đường xây dựng nông thôn mới, Mường Khương sẽ phát huy hiệu quả kinh tế của vùng cây ăn quả hiện có. Thời gian tới, huyện tiếp tục khảo sát một số vùng cây ăn quả thuộc các xã biên giới Tung Chung Phố, Tả Ngài Chồ, Pha Long, Dìn Chin, Tả Gia Khâu. Trên cơ sở đó, Huyện ủy đề ra nghị quyết chuyên đề về phát triển cây ăn quả nhằm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV vào cuộc sống.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 2: Dấu ấn những đảng viên trẻ nơi đầu nguồn

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào các dân tộc nơi thượng nguồn suối Lũng Pô đã có nhiều đổi thay. Hiện nay, nhiều chi bộ khu vực biên giới giữ vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần “đánh thức” tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô Bài 1: Biên giới Lũng Pô đổi thay từ những "làn gió mới"

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Điện đã sáng, vì sao hàng trăm hộ dân Lâm Giang vẫn chưa nhận tiền đền bù?

Những cột điện, đường dây điện quốc gia hôm nay đã vươn tới các thôn bản vùng cao của xã Lâm Giang. Nguồn điện ổn định đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, phía sau những công trình đã phát huy hiệu quả nhiều năm vẫn còn một tồn tại kéo dài: hàng trăm hộ dân đã hiến đất, chặt bỏ cây trồng để phục vụ dự án nhưng đến nay vẫn chưa được chi trả tiền bồi thường theo quy định.

fb yt zl tw