Đưa Bảo Yên trở thành trung tâm phát triển quế của vùng

Bài cuối: Để phát triển bền vững vùng quế

LCĐT - Nghị quyết về Chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, xác định cây quế là sản phẩm chủ lực của tỉnh. Như vậy, huyện Bảo Yên cũng nằm trong định hướng chung đó. Ông Vũ Hồng Điệp, Phó Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã trao đổi với phóng viên xung quanh vấn đề này.

Bài 1: Nông dân đổi đời từ cây quế

Bài 2: Nâng cao giá trị cây quế

Bài cuối: Để phát triển bền vững vùng quế ảnh 1
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh kiểm tra diện tích trồng quế ở huyện Bảo Yên.

Phóng viên: Bảo Yên mặc dù đã đưa quế là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế của địa phương, nhưng với sự phát triển quá nhanh về diện tích trong thời gian ngắn có phải là phát triển “nóng” không, thưa ông?

Ông Vũ Hồng Điệp: Theo số liệu theo dõi của ngành, đến hết năm 2020, huyện Bảo Yên có khoảng 22.000 ha quế, chiếm hơn 50% diện tích quế toàn tỉnh (40.200 ha) và tăng 16.452 ha so với năm 2015 (4.848 ha).

Theo Nghị quyết số 10 ngày 26/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cây quế được xác định là sản phẩm chủ lực của tỉnh cần tập trung phát triển. Theo đó, diện tích quế của tỉnh sẽ đạt 52.000 ha vào năm 2025 và 66.000 ha vào năm 2030. Còn đối với huyện Bảo Yên, diện tích quế khoảng 26.000 ha vào năm 2025 và đạt 30.000 ha vào năm 2030.

Qua số liệu trên cho thấy, trong giai đoạn vừa qua, diện tích cây quế của huyện Bảo Yên bình quân mỗi năm tăng gần 3.300 ha, tuy nhiên, để đạt được mục tiêu của Nghị quyết 10 đến năm 2025 và 2030 thì vẫn cần tiếp tục phát triển diện tích quế. Nên có thể nói rằng cây quế tại huyện Bảo Yên phát triển nhanh chứ chưa phải là nóng.

Phóng viên: Việc phát triển nhanh về diện tích trong thời gian ngắn đặt ra một số vấn đề như áp lực về kỹ thuật trồng không đảm bảo, sâu, bệnh hại, thậm chí lạm dụng chất diệt cỏ trong giai đoạn làm đất, ông nhìn nhận và đánh giá vấn đề này thế nào?

Ông Vũ Hồng Điệp: Như chúng ta đã phân tích ở trên, với việc diện tích quế phát triển nhanh đúng là có đặt ra một số vấn đề đối với công tác quản lý của ngành. Những vấn đề này chúng tôi đã lường trước và đang tổ chức quản lý, chỉ đạo để phù hợp với yêu cầu phát triển.

Nhằm đảm bảo nguồn cung giống quế chất lượng, ngành đã tổ chức đánh giá chất lượng giống, xây dựng rừng giống quế và quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp theo quy định. Với diện tích rừng giống quế của tỉnh được cấp chứng nhận là 70 ha, có năng lực sản xuất khoảng 84 tấn hạt giống/năm, đủ để sản xuất 120 triệu cây giống, thừa khả năng đáp ứng cho nhu cầu cây giống của tỉnh (khoảng 50 triệu cây giống/năm) và cung ứng cho một số tỉnh lân cận. Như vậy, giống quế được đưa vào trồng phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, cây giống được sản xuất tại các vườn ươm đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định; kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch thực hiện theo tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và điều kiện thực tế tại địa phương.

Đối với kỹ thuật canh tác quế, đây cũng là vấn đề ngành rất quan tâm để phát triển vùng nguyên liệu chất lượng, với mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 30% diện tích quế được cấp chứng chỉ hữu cơ, đến năm 2050 đạt 50% diện tích.

Để đạt được mục tiêu này, ngành phối hợp chặt chẽ với các địa phương tăng cường công tác khuyến lâm, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân kỹ thuật canh tác quế bền vững; xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất quế hữu cơ. Đồng thời, kêu gọi, huy động các nguồn lực khác (các dự án NGO, ODA…) hỗ trợ xây dựng chứng chỉ quản lý rừng bền vững, chứng chỉ hữu cơ cho diện tích quế của tỉnh.

Bài cuối: Để phát triển bền vững vùng quế ảnh 2

Phóng viên: Xin ông cho biết, để phát triển bền vững cây quế trong toàn tỉnh nói chung và Bảo Yên nói riêng, ngành lâm nghiệp Lào Cai đã có những định hướng và giải pháp cụ thể nào hỗ trợ các địa phương?

Ông Vũ Hồng Điệp: Về định hướng phát triển, sẽ hình thành vùng trồng quế tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tập trung phát triển chuỗi sản phẩm quế hữu cơ mang thương hiệu sản phẩm quốc gia; từng bước vươn ra thị trường thế giới và trở thành mặt hàng nông - lâm sản xuất khẩu chính; gắn phát triển vùng nguyên liệu quy mô tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật với thu hút, kêu gọi đầu tư các cơ sở chế biến sâu có công nghệ hiện đại, có giá trị gia tăng cao. Phát triển quế tập trung trên địa bàn các huyện: Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng, Văn Bàn, Bát Xát. Giai đoạn 2021 - 2025, tiếp tục mở rộng thêm 12.000 ha quế, nâng tổng diện tích trên địa bàn tỉnh đạt trên 52.000 ha; giai đoạn 2026 - 2030, mở rộng thêm 13.500 ha, tổng diện tích đạt 66.000 ha; đến năm 2050 đạt 68.000 ha.

Các giải pháp kỹ thuật: Nghiên cứu, áp dụng khoa học - công nghệ từ khâu sản xuất giống tới khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo hướng hữu cơ; đến năm 2050, có trên 50% sản phẩm quế đạt chứng nhận hữu cơ và được quản lý trên hệ thống xác thực số (QRS).

Về chế biến, tiêu thụ sản phẩm: Giai đoạn 2021 - 2025, duy trì hoạt động của các cơ sở chế biến hiện có; tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở chiết xuất tinh dầu quế; có 1 nhà máy chế biến sâu tinh dầu quế với công suất trên 500 tấn tinh dầu/năm; có 2 nhà máy chế biến sâu vỏ quế, công suất trên 10.000 tấn/năm. Giai đoạn 2026 - 2030, nâng công suất chế biến của các cơ sở chế biến quế trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu các xu thế phát triển thị trường, nhu cầu tiêu thụ các loại sản phẩm quế sau chế biến theo hướng đi tắt, đón đầu, khuyến khích sản xuất, xuất khẩu đến các thị trường khó tính; tìm kiếm thị trường lâm sản xuất khẩu, tập trung vào thị trường Mỹ và các nước châu Âu.

Phóng viên: Ông có khuyến cáo gì cho Bảo Yên khi mở rộng diện tích trồng quế và đặc biệt diện tích quế trên địa bàn bước vào chu kỳ thu hoạch?

Ông Vũ Hồng Điệp: Để phát triển bền vững cây quế trên địa bàn tỉnh nói chung và của huyện Bảo Yên nói riêng, cấp ủy đảng, chính quyền huyện Bảo Yên cần bám sát định hướng và giải pháp của Nghị quyết số 10.

Cần chỉ đạo xây dựng kế hoạch cụ thể, đặc biệt phải đẩy mạnh tuyên tuyền, vận động, hướng dẫn kỹ thuật cho người dân. Thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh quế là tiền đề quan trọng để mời gọi, thu hút doanh nghiệp có năng lực đủ mạnh đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sâu, tinh chế sản phẩm quế, nhằm gia tăng giá trị quế và phát triển bền vững sản phẩm quế.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Ngôi trường bước ra từ tranh vẽ

Phía sau những khối nhà mang dáng dấp kiến trúc vùng cao là câu chuyện nhiều tháng ngày khảo sát, lắng nghe và điều chỉnh của những kiến trúc sư, với mong muốn dựng nên không chỉ một ngôi trường, mà còn là một không gian gìn giữ văn hóa cho học sinh nơi biên cương Tổ quốc.

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Sức sống mới trên thượng nguồn Lũng Pô

Suối Lũng Pô dài 38 km, chảy qua xã Nậm Xe (cũ), tỉnh Lai Châu 8 km rồi vào địa phận Lào Cai tại xã Y Tý, qua xã A Lù (cũ), sau đó hòa vào sông Hồng tại thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung. Từ khu vực xa xôi, khó khăn bậc nhất tỉnh, đến nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với cơ chế, chính sách phù hợp, những thôn, bản nơi vùng cao, biên giới dọc suối Lũng Pô ngày càng khởi sắc.

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Đầu tư hạ tầng kết nối với các vùng động lực

Từ khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, điều thay đổi quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích hay quy mô dân số mà còn tạo ra không gian phát triển lớn hơn cho tỉnh Lào Cai mới. Trong không gian đó, đầu tư hạ tầng giữ vai trò kết nối các vùng động lực, thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản và kinh tế cửa khẩu, hướng tới mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Sức sống mới nơi thượng nguồn Lũng Pô Bài cuối: Điểm tựa bình yên nơi biên cương

Trên hành trình ngược suối Lũng Pô với chiều dài hơn 30 km từ thôn Lũng Pô (xã A Mú Sung) đến thôn Hồng Ngài (xã Y Tý), cùng với cảm nhận về sự đổi thay ở những vùng đất bên dòng suối biên giới, điều làm chúng tôi tự hào là khung cảnh bình yên hiện hữu khắp dải biên cương xa xôi. Ở nơi ấy, dù đường biên giới dài và địa hình hiểm trở, những chiến sĩ biên phòng vẫn luôn chắc tay súng cùng đồng bào các dân tộc giữ bình yên biên giới.

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Gỡ vướng mặt bằng cho các công trình giao thông

Hạ tầng giao thông có vai trò quan trọng mở ra không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và nâng cao đời sống người dân. Thế nhưng, do vướng mắc mặt bằng khiến tiến độ nhiều công trình bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư chưa được phát huy

fb yt zl tw