EVFTA – Khởi đầu thuận lợi và những bước tiếp theo

Sau những thành công bước đầu hết sức khả quan và tích cực trong một năm thực thi Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), chúng ta đang bước vào một giai đoạn mới khó khăn hơn, thách thức hơn dưới áp lực chưa từng có của dịch bệnh ở Việt Nam, cũng như trên thế giới.

 EVFTA – Khởi đầu thuận lợi và những bước tiếp theo ảnh 1
Thuỷ sản luôn là thế mạnh của Việt Nam khi xuất khẩu vào châu Âu.

“Tuyến đường cao tốc” đặc biệt nối Việt Nam với EU

Với các cam kết có mức độ tự do hóa sâu rộng, các tiêu chuẩn cao về quy tắc, thể chế và phạm vi bao trùm nhiều lĩnh vực truyền thống và phi truyền thống, bản thân EVFTA đã mang theo rất nhiều kỳ vọng của doanh nghiệp về quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) nói chung cũng như cơ hội cho từng doanh nghiệp nói riêng. Đó là những kỳ vọng đặc biệt với FTA đầu tiên, “tuyến đường cao tốc” hai chiều đầu tiên cho xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU. Điều này là rất ý nghĩa nếu biết rằng hầu như tất cả các FTA trong một thập kỷ trở lại đây của Việt Nam đều là với các đối tác mà trước đó Việt Nam đã có FTA, do đó lợi ích về xuất nhập khẩu chỉ là tăng thêm.

Thực tế, EVFTA cho phép Việt Nam kết nối trực tiếp cùng lúc với 27 nền kinh tế thành viên của khu vực kinh tế đứng tốp đầu thế giới. Thị trường chỉ chưa đầy 500 triệu dân của 27 nước EU có sức mua lớn thứ hai toàn cầu, và cũng là khách hàng lớn thứ hai, thứ ba liên tục nhiều năm của xuất khẩu Việt Nam. Về phía mình, thị trường Việt Nam với 98 triệu dân và một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, cũng có nhu cầu rất cao về nguồn đầu vào cho sản xuất cũng như các sản phẩm tiêu dùng chất lượng tốt từ EU.

Phát biểu tại Hội thảo trực tuyến “Hành trình một năm Hiệp định EVFTA – Khởi đầu thuận lợi và những bước tiếp theo” tổ chức ngày 27/8, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) TS Vũ Tiến Lộc đánh giá, trong lúc tình hình dịch bệnh đang rất căng thẳng, ảnh hưởng bất lợi ở các mức độ khác nhau cho doanh nghiệp, việc Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) tạo cơ hội để các bên đánh giá, thảo luận về những gì đã đạt được sau một năm thực thi EVFTA, và về cách thức mà Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiêu chuẩn cao nối liền hai nền kinh tế Việt Nam và EU này có thể hỗ trợ hai bên vượt qua cơn bĩ cực từ đại dịch COVID-19 và để phát triển mạnh mẽ hơn sau này là điều rất có ý nghĩa.

Từ góc độ cơ cấu kinh tế, các nước thành viên EU và Việt Nam có cơ cấu cơ bản bổ sung cho nhau, hầu như không cạnh tranh trực tiếp. EU mạnh về các sản phẩm như dược phẩm, sữa, thịt, máy móc thiết bị… Việt Nam lại có ưu thế về các sản phẩm công nghiệp nhẹ phục vụ tiêu dùng như: dệt may, giày dép, đồ gỗ…; nông sản nhiệt đới như: rau củ, trái cây, gạo…; thủy sản, công cụ thiết bị cơ khí... EU có dịch vụ tài chính, logistics… rất phát triển, trong khi Việt Nam lại mạnh trong cung ứng các dịch vụ như đóng tàu, vận tải nội địa… EU là nơi cung cấp công nghệ nguồn quan trọng trong nhiều ngành kinh tế, thậm chí đứng đầu thế giới trong một số lĩnh vực. Việt Nam lại có nhu cầu cao về nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị thế hệ mới để nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam. Sự bổ sung này làm cho cơ hội lợi ích trong EVFTA cho các doanh nghiệp lớn hơn đáng kể so các FTA mà Việt Nam đang có.  

Từ góc độ hợp tác đầu tư, với EU là nguồn đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới, Việt Nam là cánh cửa kết nối nhiều nền kinh tế quan trọng ở châu Á, lại được bảo đảm bằng các cơ chế bảo hộ tin cậy trong EVFTA, các doanh nghiệp hai bên có rất nhiều động lực mới cùng Hiệp định này để gia tăng hợp tác, cùng phát triển và cùng thu lợi nhuận. Hơn thế, là FTA có mối quan tâm lớn nhất, sâu sắc và bao trùm nhất về các vấn đề thể chế kinh tế và phát triển bền vững mà Việt Nam từng ký kết, EVFTA còn là sức ép, điều kiện và động lực để doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam nâng cấp hoạt động kinh doanh thương mại ở các góc độ nhân văn, bao trùm và phát triển bền vững, một xu hướng tất yếu không thể đảo ngược của thế giới.

Khởi đầu tích cực của EVFTA

Trong gần 400 ngày vừa qua kể từ khi có hiệu lực ngày 1/8/2020, EVFTA đã cho thấy những đóng góp có ý nghĩa như một cứu cánh trong phát triển kinh tế giữa hai bên và cho sự tăng trưởng của Việt Nam mà những thay đổi trong quan hệ xuất nhập khẩu song phương là minh chứng điển hình.

Còn nhớ trong suốt bảy tháng đầu năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam sang EU tụt dốc liên tục với mức giảm tổng cộng là -5,9% so cùng kỳ năm 2019, cùng mức sụt giảm nhu cầu ở EU trong các giai đoạn đóng cửa kinh tế do dịch bệnh. Tình thế hoàn toàn thay đổi trong 5 tháng cuối năm 2020, dưới tác động tích cực của EVFTA, trong khi tổng nhập khẩu của EU từ thế giới vẫn sụt giảm tới 20%, nhập khẩu từ Việt Nam sang thị trường này lại tăng 3,8%. Nửa đầu năm 2021, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU vẫn tăng liên tục và ổn định, ở mức 18,3% so với cùng kỳ, đặc biệt là sự bứt phá của nhóm hàng nông sản.

Ở chiều ngược lại, EVFTA cũng thúc đẩy mạnh mẽ nhập khẩu từ EU vào Việt Nam, với các sản phẩm như linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị… là thế mạnh của EU và cũng là nguồn đầu vào quan trọng cho Việt Nam. Nếu như năm 2020, nhập khẩu từ EU của Việt Nam tăng 4,3% (cao hơn mức 3,7% tăng trưởng nhập khẩu từ tất cả các nguồn) thì 6 tháng đầu năm 2021, con số này là 19,8%.

Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng được ưu đãi thuế quan theo EVFTA của Việt Nam cũng đạt được mức cao nhất so năm đầu thực thi của bất kỳ FTA nào khác. Theo Bộ Công thương, 5 tháng cuối năm 2020, tỷ lệ này là 14,8% (quan sát của VCCI cho thấy, tỷ lệ này gấp hai lần tỷ lệ sử dụng ATIGA, gấp bảy lần AIFTA, gấp hai lần tỷ lệ tận dụng các thị trường mới của CPTPP trong năm đầu). Nửa đầu năm 2021, tỷ lệ này đã tăng lên tới mức 29%.

Về đầu tư, với những cam kết về quản trị minh bạch từ Hiệp định EVFTA và những cam kết tạo môi trường thương mại đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư của hai bên, Việt Nam đã tiếp nhận được nguồn đầu tư có chất lượng và được học hỏi, hấp thụ khoa học và công nghệ tiên tiến từ EU, tạo ra những giá trị và lợi ích cho doanh nghiệp và nhà đầu tư của cả hai bên.Tính đến tháng 6/2021, EU có 2.221 dự án (tăng 142 dự án so cùng kỳ năm 2020) từ 26/27 quốc gia thuộc EU còn hiệu lực tại Việt Nam với vốn đầu tư đăng ký đạt 22,216 tỷ USD (tăng 449 triệu USD so cùng kỳ năm 2020).

EVFTA – Một trợ lực để Việt Nam vượt qua dịch bệnh

Sau những thành công bước đầu hết sức khả quan và tích cực trong thực thi EVFTA, chúng ta đang bước vào một giai đoạn mới khó khăn hơn, thách thức hơn dưới áp lực chưa từng có của dịch bệnh ở Việt Nam, cũng như trên thế giới. Những ngày này, nhân dân Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp EU tại Việt Nam, đang phải trải qua những thời khắc vô cùng khó khăn, với dịch bệnh diễn biến đặc biệt phức tạp, đặc biệt là ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Các doanh nghiệp ở nhiều khu vực trên cả nước mà đặc biệt đầu tàu ở phía Nam đã và đang phải đối mặt với những tác động và thiệt hại nghiêm trọng.

Từ góc độ sản xuất, dịch bệnh khiến chuỗi sản xuất bị đứt gãy nghiêm trọng, từ việc thiếu lao động, đến phải ngừng sản xuất do không đáp ứng được điều kiện làm việc trong giãn cách, từ việc thiếu hụt nguồn đầu vào đến việc không thể giải phóng nguồn đầu ra do ách tắc trong khâu vận chuyển liên tỉnh.

Ở các khu vực tâm dịch, đa số các doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng được các điều kiện để tiếp tục sản xuất. Thí dụ ở TP Hồ Chí Minh, 90% doanh nghiệp chế biến gỗ và đồ mỹ nghệ thuộc HAWA phải ngừng sản xuất. Ở Cần Thơ, 9.800/10.000 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động. Ở 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thủ phủ chế biến thủy sản xuất khẩu, mặc dù chỉ có 35% cơ sở (123/449) phải tạm dừng sản xuất hoàn toàn, số vẫn tiếp tục hoạt động cũng chỉ duy trì được khoảng 30% - 40% công suất so thông thường do thiếu nhân công và yêu cầu chia ca kíp. Ở nhiều tỉnh phía Nam, nông dân không thể ra đồng trong khi nhiều loại nông sản đang vào vụ thu hoạch chính, nguồn cung cho doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu nông sản cùng vì vậy bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Với các doanh nghiệp xuất khẩu, không chỉ đầu vào và sản xuất gặp rủi ro, đầu ra cũng cực kỳ phức tạp khi đơn hàng không thể xuất theo kế hoạch, vận tải đường bộ chậm trễ do các thủ tục kiểm soát dịch bệnh, cảng xuất ách tắc do không thể vận hành bình thường, tình trạng thiếu container rỗng vẫn diễn biến nghiêm trọng và chi phí logistics tăng phi mã. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với những hệ lụy chưa thể lường hết được trong tương lai, khi dịch đã đi qua. Liệu những đơn hàng mà hiện vì dịch bệnh mà doanh nghiệp không thể đáp ứng, khách hàng chuyển sang mua từ các nước khác, có quay trở lại với Việt Nam sau đó? Liệu nguồn nguyên liệu đầu vào có khôi phục lại khi mà nhiều nông dân, người nuôi trồng thủy sản có thể vì những thiệt hại hiện tại mà không thể tiếp tục tái đàn, xuống giống, thả nuôi cho mùa tới? Liệu một lượng đáng kể người lao động đã rời tâm dịch về quê có trở lại để tái khởi động sản xuất?…

Theo TS Vũ Tiến Lộc, để xử lý tất cả những nguy cơ cả hiện hữu và trong tương lai này thì cần rất rất nhiều giải pháp từ cả chính sách của Nhà nước và chiến lược riêng của doanh nghiệp. Trong các giải pháp đó, EVFTA có thể đóng góp và là một trợ lực ý nghĩa cho doanh nghiệp trong các nỗ lực vượt qua dịch bệnh để tiếp tục kinh doanh trong thời gian tới nếu chúng ta khai thác hiệu quả các khía cạnh thích hợp.

Ví dụ lợi thế về thuế quan trong EVFTA có thể là một lực hấp dẫn quan trọng để thu hút các khách hàng EU quay trở lại với Việt Nam sau thời gian đỉnh dịch. EVFTA cho Việt Nam lợi thế cực kỳ đáng kể trong cạnh tranh với các đối thủ khác ở thị trường EU. Hiện tại ngoài Việt Nam, EU mới chỉ có FTA với 3 nền kinh tế ở châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore, trong đó không có đối thủ cạnh tranh trực tiếp nào với Việt Nam. Và nếu xuất khẩu sang EU qua EVFTA có thể giữ được nhờ lợi thế giá, đặc biệt trong lĩnh vực nông thủy sản, tiềm năng lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu sẽ là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư khôi phục sản xuất sau dịch, thu hút người lao động trở lại cũng như thúc đẩy khôi phục nguồn nguyên liệu.

Cũng như vậy, các lợi thế từ thuế quan trong nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên phụ liệu cho sản xuất từ EU theo EVFTA có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, đồng thời tăng năng suất lao động, cải thiện hiệu quả cạnh tranh khi một lần nữa trở lại đường đua.

Theo Chủ tịch VCCI, một Hiệp định đặc biệt có hiệu lực vào một thời điểm đặc biệt, khi kinh tế hai bên và cả thế giới đang phải vật lộn để vượt qua những khó khăn từ đại dịch thế kỷ COVID-19, EVFTA lại gánh thêm những kỳ vọng khác nữa, như là một trong những động lực và cách thức quan trọng để các doanh nghệp và nền kinh tế hai bên, mà đặc biệt là Việt Nam, cầm cự qua dịch bệnh cũng như lấy lại đà tăng trưởng sau đó. Trong quá trình khai thác tối đa lợi thế EVFTA để khôi phục sản xuất kinh doanh, tin tưởng rằng, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến từ EU sẽ có ý nghĩa rất quan trọng. Cùng nhau vượt qua khó khăn chắc chắn sẽ hiệu quả hơn đi một mình. Cùng nhau hiện thực hóa các cơ hội từ EVFTA sẽ mang lại lợi ích hài hòa, bao trùm và bền vững cho cả hai bên./.

VOV

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

“Cánh tay nối dài” bảo vệ lá phổi xanh

“Cánh tay nối dài” bảo vệ lá phổi xanh

Lào Cai hiện có hơn 860.000 ha đất có rừng, tỷ lệ che phủ đạt 61,5%. Những cánh rừng không chỉ là “lá phổi xanh” điều hòa khí hậu, giữ nguồn nước, chống xói mòn, mà còn là nguồn sinh kế quan trọng của đồng bào vùng cao. Tuy nhiên, để giữ được màu xanh ấy trước nguy cơ cháy rừng, phát nương hay khai thác lâm sản trái phép chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh làm việc tại các xã: Yên Bình, Thác Bà, Cảm Nhân, Yên Thành, Bảo Ái

Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh làm việc tại các xã: Yên Bình, Thác Bà, Cảm Nhân, Yên Thành, Bảo Ái

Tiếp tục chương trình công tác, chiều 12/5, đồng chí Nguyễn Thành Sinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng Đoàn công tác đã có buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt các xã: Yên Bình, Thác Bà, Cảm Nhân, Yên Thành và Bảo Ái để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đầu tư công, thu ngân sách và lập quy hoạch xây dựng trên địa bàn các địa phương.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ giải ngân, lập quy hoạch tại xã Yên Bình và Thác Bà

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ giải ngân, lập quy hoạch tại xã Yên Bình và Thác Bà

Sáng 12/5, Đoàn công tác của tỉnh do đồng chí Nguyễn Thành Sinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng đoàn đã đi kiểm tra, đôn đốc tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đầu tư công, thu ngân sách và công tác lập quy hoạch xây dựng trên địa bàn xã Yên Bình và xã Thác Bà.

Lào Cai: Chủ động bình ổn thị trường, giữ đà tăng trưởng

Lào Cai: Chủ động bình ổn thị trường, giữ đà tăng trưởng

Thời gian qua, tình hình chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp tác động trực tiếp đến thị trường năng lượng. Tỉnh Lào Cai đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững đà tăng trưởng kinh tế. Nhờ sự chủ động trong công tác điều hành, dự báo và kích cầu tiêu dùng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng những tháng đầu năm đã đạt kết quả khả quan, không xảy ra đầu cơ, găm hàng hay tăng giá bất hợp lý.

Sở Tài chính kiểm tra việc sắp xếp, xử lý tài sản công sau sáp nhập tại các địa phương

Sở Tài chính kiểm tra việc sắp xếp, xử lý tài sản công sau sáp nhập tại các địa phương

Trong ngày 12/5, các Tổ công tác của Sở Tài chính tỉnh Lào Cai đã thực hiện kiểm tra, làm việc với UBND các xã Bản Liền, Lục Yên, Tân Lĩnh, Mường Lai và Lâm Thượng về thực hiện rà soát, hướng dẫn, đôn đốc việc xử lý tài sản là cơ sở nhà, đất sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Lào Cai quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 46

Lào Cai quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 46

Chiến lược phát triển của địa phương miền núi, nơi địa hình chia cắt và thiên tai thường xuyên hiện hữu, giao thông không chỉ là hạ tầng mà đó là “mạch sống”. Nhận thức sâu sắc điều này, tỉnh Lào Cai đã ban hành Nghị quyết 46-NQ/TU, khẳng định quyết tâm tạo đột phá về kết cấu hạ tầng, mở đường cho phát triển bền vững.

Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Gỡ khó cho cây sơn tra Nậm Có

Từng là loài cây mọc tự nhiên trên núi cao, sơn tra nay đang trở thành cây kinh tế giúp nhiều hộ dân xã Nậm Có cải thiện thu nhập, giữ đất, giữ rừng và ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, để “vàng xanh” vùng cao phát huy hết giá trị, địa phương vẫn đang đối mặt với bài toán đầu ra, liên kết tiêu thụ và chế biến sản phẩm.

Giải ngân vốn đầu tư công: Quyết tâm từ chỉ đạo đến hành động

Giải ngân vốn đầu tư công: Quyết tâm từ chỉ đạo đến hành động

Năm 2026, Lào Cai bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển với kế hoạch vốn đầu tư công lên tới hơn 11.395 tỷ đồng, bao gồm nhiều nguồn vốn khác nhau. Khối lượng vốn lớn đi kèm với yêu cầu giải ngân đạt 100% đã đặt ra áp lực không nhỏ đối với công tác điều hành, tổ chức thực hiện và kiểm soát tiến độ các dự án. Trong bối cảnh đó, việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn tỉnh.

An toàn lao động trong hoạt động khai thác khoáng sản

An toàn lao động trong hoạt động khai thác khoáng sản

Những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp của tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, phía sau sự tăng trưởng là áp lực lớn về an toàn lao động trong môi trường làm việc đặc thù. Thực tế đã cho thấy, chỉ một sai sót nhỏ, một quy trình bị bỏ qua hay một thiết bị xuống cấp không được thay thế kịp thời cũng có thể dẫn đến hậu quả khôn lường.

Khi rừng trở thành tài sản chung của cộng đồng vùng cao

Khi rừng trở thành tài sản chung của cộng đồng vùng cao

Những năm gần đây, tại nhiều địa phương vùng cao, nhận thức của người dân về vai trò, giá trị của rừng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Từ chỗ từng coi rừng là nguồn tài nguyên sẵn có để khai thác, người dân nay dần xem rừng là tài sản chung cần được gìn giữ, bảo vệ. Khi quyền lợi gắn liền với trách nhiệm, cộng đồng ngày càng chủ động hơn trong việc giữ màu xanh cho những cánh rừng.

Chủ động mùa mưa bão - khi “phòng” phải đi trước “chống”

Chủ động mùa mưa bão - khi “phòng” phải đi trước “chống”

Biến đổi khí hậu đang khiến thiên tai ngày càng cực đoan, khó lường hơn. Với tỉnh miền núi như Lào Cai, nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, yêu cầu đặt ra không chỉ là ứng phó nhanh khi thiên tai xảy ra mà phải chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Mường Hum nâng cao giá trị cây lê

Mường Hum nâng cao giá trị cây lê

Với lợi thế khí hậu và thổ nhưỡng, xã Mường Hum đang đẩy mạnh phát triển cây lê theo hướng hàng hóa. Nhờ chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăm sóc, nâng cao chất lượng sản phẩm và liên kết tiêu thụ, cây lê không chỉ giúp nhiều hộ dân tăng thu nhập mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả của địa phương.

An cư cho người dân vùng thiên tai

An cư cho người dân vùng thiên tai

Sau những trận mưa lũ, sạt lở đất gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, nhiều hộ dân tại các khu vực có nguy cơ cao trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã phải di dời khẩn cấp để đảm bảo an toàn. Trong khó khăn, mất mát, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng chính quyền các cấp đã trở thành điểm tựa để người dân vùng thiên tai từng bước ổn định cuộc sống, yên tâm an cư tại nơi ở mới.

Púng Luông: Phát huy hiệu quả nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia

Púng Luông: Phát huy hiệu quả nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia

Từ những tuyến đường bê tông men theo sườn núi đến các lớp học khang trang hơn giữa bản làng, nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang làm đổi thay diện mạo xã Púng Luông. Không chỉ hoàn thiện hạ tầng, chương trình còn tạo sinh kế, tiếp thêm động lực để người dân vùng cao vươn lên giảm nghèo bền vững.

fb yt zl tw