Trong bối cảnh khủng hoảng xăng dầu trên thế giới do ảnh hưởng của xung đột Trung Đông vẫn khó lường, việc đa dạng hoá nguồn cung để đáp ứng nhu cầu trong nước chính là giải pháp cấp bách bên cạnh các giải pháp căn cơ, lâu dài khác.
Tối ưu chế biến, đa dạng nguồn cung dầu thô
Theo Tiến sỹ Nguyễn Hồng Minh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam-đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), trong điều kiện bình thường, Việt Nam vẫn xuất khẩu một phần dầu thô khai thác trong nước và nhập khẩu một phần dầu thô nguyên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất của nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) và nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa).
Kể từ khi hai nhà máy lọc dầu này đi vào hoạt động, Việt Nam đã chủ động được khoảng 70% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước, giúp giảm đáng kể sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu xăng dầu thành phẩm so với giai đoạn trước. Khoảng 30% nhu cầu xăng dầu còn thiếu được nhập khẩu bổ sung từ các nước.
Lý giải về việc Việt Nam vừa xuất khẩu dầu thô nhưng lại nhập khẩu dầu thô để chế biến xăng dầu thành phẩm, Tiến sỹ Nguyễn Hồng Minh cho biết, đây là cấu trúc phổ biến của ngành năng lượng toàn cầu, khi nhiều quốc gia sản xuất dầu vẫn đồng thời xuất-nhập khẩu để tối ưu hóa chế biến, đa dạng nguồn cung, tăng tính linh hoạt của hệ thống lọc hoá dầu, bảo đảm an ninh năng lượng.
Đối với Việt Nam, dầu thô được khai thác từ các mỏ khác nhau có chất lượng không đồng nhất trong khi mỗi nhà máy lọc dầu được thiết kế để xử lý những loại dầu có đặc tính kỹ thuật nhất định dựa trên các đặc tính như độ nhẹ-nặng, hàm lượng lưu huỳnh hoặc thành phần hóa học của dầu.
Cụ thể, nhà máy lọc dầu Dung Quất có thể sử dụng một phần dầu thô trong nước ban đầu được thiết kế để chế biến dầu thô Bạch Hổ - loại dầu nhẹ, ngọt khai thác trong nước.
Tuy nhiên, khi sản lượng từ các mỏ nội địa có xu hướng suy giảm theo quy luật tự nhiên khi khai thác đã lâu, nhà máy phải từng bước nghiên cứu và thử nghiệm pha trộn thêm các loại dầu thô khác nhằm đa dạng hóa nguồn nguyên liệu.
Còn nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn được thiết kế theo mô hình công nghệ khác, sử dụng chủ yếu dầu thô nhập khẩu để duy trì hoạt động ổn định. Ngoài ra, một phần dầu thô khai thác trong nước có đặc tính phù hợp hơn với các nhà máy lọc dầu ở nước ngoài, nên vẫn được xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Kể từ khi xảy ra xung đột Trung Đông làm ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng dầu thô và xăng dầu thành phẩm, Petrovietnam sớm kích hoạt hàng loạt giải pháp ứng phó, đồng thời quyết liệt thực hiện Nghị quyết 36/NQ-CP ngày 6/3/2026 của Chính phủ nhằm bảo đảm nguồn cung năng lượng cho thị trường.
Petrovietnam đã kiến nghị Chính phủ xem xét dừng xuất khẩu dầu thô để ưu tiên phục vụ nhu cầu chế biến trong nước. Cùng đó, Petrovietnam đã rà soát toàn bộ nguồn nguyên liệu đầu vào, bao gồm dầu thô và các sản phẩm trung gian tồn kho từ cả nguồn trong nước và nhập khẩu, để xây dựng kế hoạch vận hành ổn định cho các nhà máy lọc dầu trong các tháng tới.
Đồng thời, Petrovietnam đã làm việc với các đối tác quốc tế để bổ sung nguồn dầu thô, hỗ trợ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) ký thêm các hợp đồng mua dầu mới nhằm duy trì sản xuất của nhà máy lọc dầu Nghi Sơn.
Trong khi đó, đơn vị thành viên của Petrovietnam là Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đang vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất trên 100% công suất, góp phần tăng nguồn cung xăng dầu cho thị trường và sẵn sàng hỗ trợ NSRP khi cần thiết.
Ngoài ra, dự kiến cuối tháng 3 này, nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ tiếp nhận Ethanol nhiên liệu từ nhà máy nhiên liệu sinh học dầu khí Miền Trung (BSR-BF) để pha chế xăng E10RON95, góp phần gia tăng sản lượng xăng dầu trong nước trong bối cảnh các kênh nhập khẩu bị hạn chế do xung đột tại Trung Đông hiện nay.
Đa dạng nguồn cung xăng dầu thành phẩm
Theo số liệu sơ bộ từ Cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 3, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 533 nghìn tấn xăng dầu, tăng 41,4% về sản lượng nhập khẩu và giá trị tăng tới 89,2% do biến động giá năng lượng toàn cầu.
Song song với xăng dầu thành phẩm, nhập khẩu dầu thô cũng được duy trì để đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho hai nhà máy lọc dầu trong nước.
Để đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước trước diễn biến xung đột tại Trung Đông, Bộ Công Thương đã yêu cầu các thương nhân đầu mối thực hiện đầy đủ kế hoạch tổng nguồn xăng dầu tối thiểu năm 2026, bảo đảm cung ứng đủ cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong mọi tình huống.
Nhờ đa dạng hóa nguồn cung, chủ động nhập khẩu và sử dụng linh hoạt Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, thị trường xăng dầu trong nước hiện cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu, góp phần hạn chế mức tăng giá trong nước, hỗ trợ ổn định đời sống người dân và hoạt động của doanh nghiệp.
Cùng đó, hai doanh nghiệp xăng dầu nhà nước là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL)-đơn vị thành viên của Petrovietnam đã sớm chủ động mua Ethanol từ các nhà máy trong nước và chủ động ký hợp đồng nhập khẩu Ethanol từ Mỹ và Brazil (nơi nguồn cung dồi dào và không bị ảnh hưởng bởi xung đột Trung Đông) để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho pha chế xăng sinh học E10RON95.
Bên cạnh đó, hai doanh nghiệp chiếm tới gần 70% thị phần xăng dầu trong nước này cũng chủ động nâng cấp hệ thống bồn bể chứa, nâng công suất pha chế E10RON95 nhằm đẩy nhanh lộ trình thay thế xăng khoáng bằng xăng sinh học E10RON95, từ đó giảm áp lực nguồn cung xăng khoáng RON95, đồng thời đẩy nhanh chuyển dịch năng lượng.
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, do việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ hay Brazil khá thuận lợi nhưng quãng đường khá xa nên để đảm bảo nguồn cung ổn định, Bộ Công Thương cần sớm nghiên cứu chính sách thuận lợi cho nhà cung cấp nước ngoài đưa hàng sang Việt Nam và được gửi xăng dầu hay Ethanol ở kho ngoại quan mà không phải mất thuế nhà thầu 1% khi đưa hàng ra khỏi kho ngoại quan.
Khi đó, các doanh nghiệp trong nước cần Ethanol pha chế chỉ cần ra kho ngoại quan lấy nguyên liệu, từ đó giúp giảm thời gian nhận hàng, giảm chi phí cho doanh nghiệp, từ đó giảm giá bán xăng E10RON95 cho người tiêu dùng.
Đề xuất các giải pháp cấp bách, ông Phạm Trung Linh-Phó Trưởng phòng Phát triển mỏ, Ban Thăm dò Khai thác Petrovietnam cho biết, do nhu cầu nhiên liệu phục vụ giao thông vận tải vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tiêu thụ nên nhiều nước trên thế giới đã áp dụng biện pháp làm việc trực tuyến, học trực tuyến để giảm đi lại, từ đó giảm tiêu thụ xăng dầu.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh phát triển phương tiện công cộng tại các thành phố, ưu tiên phương tiện điện khí hóa, giảm lưu thông phương tiện nhiên liệu hóa thạch cũng là giải pháp khả thi để giảm tiêu thụ xăng dầu.
Ngoài ra, việc dịch chuyển vận tải đường bộ sang vận tải đường thủy và đường sắt nhiều hơn vì chi phí thấp trên cơ sở tiến hành giải quyết các nút thắt của đường thủy và đường sắt.
Cụ thể, với đường thủy, thực hiện thông thuyền, cảng sông, đường kết nối bến cảng. Với đường sắt, thực hiện đường kết nối ga, mở các kho bãi container quanh các nhà ga.
Tăng quy mô dự trữ xăng dầu quốc gia
Theo chuyên gia năng lượng Đào Nhật Đình, hiện Việt Nam vẫn phải nhập khẩu xăng dầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước nên dự trữ xăng dầu thành phẩm và cả dầu thô gần như là yêu cầu bắt buộc để có thể ứng phó hiệu quả với biến động trên thị trường thế giới. Thực tế là Việt Nam đã có hệ thống dự trữ xăng dầu nhưng phần lớn nằm tại các doanh nghiệp lớn như Petrolimex hay PVOIL.
Về lâu dài, Việt Nam cần xây dựng hệ thống kho dự trữ quốc gia độc lập, tách biệt với kho thương mại của doanh nghiệp, từng bước nâng quy mô dự trữ xăng dầu và dầu thô lên mức đủ lớn, tiệm cận thông lệ quốc tế, nhằm tạo “vùng đệm an toàn” cho nền kinh tế trước các cú sốc năng lượng, ông Đào Nhật Đình nhấn mạnh.
Cùng quan điểm này, chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh cho biết, với vai trò chủ lực trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia của Petrovietnam, cần có cơ chế đặc thù về vốn đầu tư, cơ chế tài chính cũng như cơ chế cho phép Tập đoàn chủ động hơn trong việc đầu tư và phát triển hạ tầng dự trữ năng lượng, bao gồm các kho dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu quy mô lớn.
Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng cần được tạo điều kiện mở rộng hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, đồng thời chủ động hơn trong ký kết các hợp đồng nhập khẩu dầu thô dài hạn để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy lọc dầu trong nước.
Cùng đó, cần thiết kế cơ chế phối hợp rõ ràng giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong bảo đảm an ninh năng lượng, trong đó Petrovietnam có thể đóng vai trò trung tâm của chuỗi giá trị từ khai thác, dự trữ đến chế biến và cung ứng xăng dầu.
Ngoài ra, việc đẩy mạnh thăm dò, khai thác dầu khí trong nước, đồng thời đa dạng hóa nguồn nhập khẩu dầu thô và sản phẩm năng lượng, đặc biệt là các dạng năng lượng sạch mà Petrovietnam có nhiều lợi thế như điện gió ngoài khơi hay hydrogen xanh cũng là giải pháp quan trọng để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, ứng phó hiệu quả với các biến động địa chính trị hay việc gián đoạn chuỗi cung ứng và vận tải như hiện nay, ông Hà Đăng Sơn đề xuất.