Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Vùng trâu giống quốc gia Bảo Yên giờ ra sao?

Vùng trâu giống quốc gia Bảo Yên giờ ra sao?

Những năm 1960, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhập trâu Murrah từ Ấn Độ lai với trâu địa phương nhằm cải tạo, nâng cao năng suất sức kéo đàn trâu địa phương, từ đó Bảo Yên trở thành vùng trâu giống tốt nhất khu vực, được coi là vùng có trâu giống quốc gia.

Tuy nhiên, do thực hiện cơ giới trong sản xuất nông nghiệp, việc phát triển đàn trâu không còn được quan tâm như trước, giống trâu quý xưa kia giờ chỉ còn trong những câu chuyện kể.

Khu tiểu thủ công nghiệp Phố Ràng nằm trên một bãi đất bằng phẳng bên bờ sông Chảy, cách đây 60 năm nơi đây là trung tâm của Nông trường trâu sữa Bảo Yên với hệ thống nhà ở công nhân, chuồng trại chăn nuôi, đồng cỏ… được quy hoạch đồng bộ. Đây cũng là mô hình điển hình của kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thời kỳ đó.

2.jpg

Căn nhà nhỏ của gia đình bà Lê Thị Lựu, cựu công nhân nông trường nằm ngay bên trục đường chính. Gắn bó với nông trường cả tuổi thanh xuân nên bà Lựu luôn tự hào mỗi khi nhớ lại những năm tháng ấy. Bà Lựu bắt đầu làm công nhân Nông trường trâu sữa Bảo Yên từ năm 1976.
Hầu hết công nhân ở đây khi ấy cũng tuổi ngoài đôi mươi như bà, dù cuộc sống nhiều khó khăn, vất vả nhưng không khí lúc nào cũng tràn đầy niềm vui, lạc quan. Bà Lựu khi ấy được biên chế vào đội 2 của nông trường, phụ trách chăn nuôi hơn 200 con trâu được tuyển chọn từ các xã trong huyện đưa về đây.

Những năm 70 của thế kỷ trước, ngoài công nhân nông trường thì dân cư trong khu vực còn thưa thớt, cả khu vực phía nam thị trấn Phố Ràng ngày nay là bạt ngàn đồng cỏ. Khi những chú trâu Murrah được đưa về, bà Lựu cũng như công nhân ở đây đều thấy lạ lẫm, thích thú. Những chú trâu này có cặp sừng ngắn, quặp về phía sau, vóc dáng to lớn hơn hẳn trâu nội. Bà Lựu kể: Trâu Murrah là những chú trâu sữa nên rất hiền. Mỗi lần đi làm về qua khu vực nuôi, mọi người đều tranh thủ vào ngắm chúng một lát.

3.jpg

Trải qua những năm tháng thăng trầm nhất cùng nông trường nên khi nghe chúng tôi gợi chuyện về hoạt động của nông trường trước đây thì ông Mông Văn Thiến, nguyên Phó Giám đốc, nguyên Bí thư Đảng ủy Nông trường trâu sữa Bảo Yên (giai đoạn 1971 - 1984) như cởi tấm lòng, bao nhiều kỷ niệm lại ùa về.

Nông trường trâu sữa Bảo Yên khi ấy là trung tâm giống trâu nội lớn nhất nước, nhiệm vụ chính là tuyển chọn, lai tạo các giống trâu có phẩm chất tốt để cung cấp cho cả nước.

Ông Mông Văn Thiến, nguyên Phó Giám đốc Nông trường trâu sữa Bảo Yên

Năm 1971, ông Mông Văn Thiến được điều động từ Hạt giao thông Bảo Yên sang Nông trường phụ trách xây dựng hạ tầng. Ông Thiến cùng công nhân, kỹ sư khẩn trương xây dựng nhiều hạng mục như khu chuồng trại, khu chế biến sữa, nhà ở công nhân, nhà chuyên gia, mở đường công vụ, khai hoang trồng hàng trăm ha cỏ phục vụ chăn nuôi.

Ông Thiến cho biết: Tiền thân của Nông trường trâu sữa Bảo Yên là Trại chăn nuôi trâu bò sữa thành lập năm 1965, đến năm 1971 thì được chuyển đổi mô hình thành nông trường, có cả trạm xá, trường học cho con em công nhân.

Nông trường trâu sữa Bảo Yên khi ấy là trung tâm giống trâu nội lớn nhất nước, nhiệm vụ chính là tuyển chọn, lai tạo các giống trâu có phẩm chất tốt để cung cấp cho cả nước. Năm 1973, nông trường bắt đầu thực hiện nhiệm vụ lai tạo giống trâu nội với giống trâu Murah. Trong số hàng trăm con trâu giống Murrah do Chính phủ và Nhân dân Ấn Độ tặng Nhân dân Việt Nam thì có 5 con được đưa về Nông trường trâu sữa Bảo Yên để gây giống.

4.jpg

Những con trâu giống Mura to lớn nặng hơn một tấn, điểm đặc trưng nhất là cặp sừng quặp về phía sau. Ông Thiến cho biết: Xác định đây là những chú trâu giống quý nên ban lãnh đạo nông trường cử 5 kỹ sư chăn nuôi mỗi người trực tiếp phụ trách theo dõi, chăm sóc 1 con.

Ông Phòng Đình Chương, quê ở Yên Bái, làm công nhân Nông trường trâu sữa Bảo Yên cuối những năm 70. Sau khi Nông trường trâu sữa sáp nhập vào Nông trường hoa quả rồi giải thể, ông Chương vẫn tiếp tục ở lại, gắn bó với mảnh đất Phố Ràng.

Ngày về làm việc tại nông trường, ông Chương được cử đi học kỹ thuật viên để về lai tạo những con trâu giống Murrah với trâu Bảo Yên. Ông Chương bảo: Hầu hết những con trâu lai đã chuyển đi các tỉnh. Hiện một số xã ở Bảo Yên như Xuân Hòa, Xuân Thượng vẫn còn thế hệ lai của những con trâu Murrah ngày xưa nhưng đã mai một nhiều.

Chiến tranh bảo vệ biên giới 1979, ông Mông Văn Thiến cùng 300 công nhân vẫn bám trụ lại bảo vệ cơ sở vật chất nông trường. Khi đó, những chú trâu ngoại được đưa về Yên Bình, Yên Bái chăm sóc, còn đàn trâu nội được hành quân về Lục Yên, Yên Bái.

Cuối những năm 80, 5 con trâu giống Murrah được đưa về Nông trường Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước) vì diện tích đồng cỏ ở Bảo Yên không còn đảm bảo. Theo chủ trương của trên và yêu cầu nhiệm vụ mới Nông trường trâu sữa được sáp nhập vào Nông trường hoa quả. Những công nhân trồng cỏ chăn nuôi trâu trước đây chuyển sang trồng dứa, câu chuyện về những chú trâu Murrah lùi dần vào dĩ vãng.

Để tìm lại những thế hệ lai của giống trâu Murrah trước đây, chúng tôi tìm về các xã Xuân Hòa, Vĩnh Yên, Tân Dương, Xuân Thượng… là những nơi trước đây từng phát triển mạnh đàn trâu. Tuy nhiên, hầu như mọi thông tin về những chú trâu này đã mai một. Vùng trâu giống quốc gia Bảo Yên hiện cũng không còn phát triển mạnh đàn trâu như trước.

Anh Hoàng Văn Sị, bản Mai Thượng, xã Xuân Hòa cho biết: Trước đây thương lái khắp nơi đều tìm về Mai Thượng để tìm trâu nhưng nay cả thôn chỉ còn hơn chục con, tiếc nuối sẽ mất đi giống trâu quý của địa phương nên anh đang cố gắng giữ lại chú trâu của gia đình mặc dù nhiều người đến hỏi mua với giá cao.

5.jpg

Năm 2011, huyện Bảo Yên từng triển khai Dự án Phát triển và xây dựng thương hiệu trâu Bảo Yên, trong đó chọn 5 xã trọng điểm gắn với xây dựng nông thôn mới là các xã Nghĩa Đô, Vĩnh Yên, Xuân Hòa, Tân Dương, Việt Tiến.

Điều này được kỳ vọng sẽ phát triển bền vững đàn trâu Bảo Yên, mở rộng thị trường nhằm cung cấp trâu giống, trâu hàng hóa cho thị trường trong nước, giúp người chăn nuôi có thu nhập cao từ phát triển đàn trâu. Đến những năm 2009, 2010, đàn trâu trên địa bàn vẫn được duy trì khá lớn với khoảng 22.500 con, mỗi năm xuất bán 2.500 - 3.000 con, doanh thu hàng chục tỷ đồng.

Tuy nhiên, những năm gần đây đồng cỏ bị thu hẹp, nhu cầu sức kéo được thay thế bằng máy móc nên người dân không còn duy trì đàn trâu số lượng lớn, khiến đàn trâu sụt giảm mạnh. Vẫn biết sự thay đổi này là hoàn toàn có thể hiểu được, nhưng với những người từng gắn bó và chứng kiến sự lớn mạnh của vùng trâu giống quốc gia Bảo Yên thì không khỏi tiếc nuối...

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG “THẾ TRẬN” KHÔNG MA TUÝ Bài cuối: Dựa vào sức dân “giữ sạch” địa bàn

Giữ sạch địa bàn không chỉ bằng những đợt truy quét, xử lý mà cần sức mạnh từ mỗi gia đình, khu dân cư. Khi người dân chủ động phòng ngừa, phát hiện, cung cấp thông tin và cùng hỗ trợ người sau cai tái hòa nhập, một “thế trận lòng dân” đang được hình thành để ngăn ma túy quay trở lại.

Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Quyết tâm xây dựng “thế trận” không ma tuý Bài 1: Cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở

Lào Cai đã triển khai cuộc “tổng tiến công” từ cơ sở nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng 100% xã, phường không ma túy trong năm 2026. Nghị quyết 51 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được cụ thể hóa bằng việc huy động cả hệ thống chính trị, dồn lực giải quyết những điểm khó và gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy.

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y

Ở những bản làng người Bố Y hôm nay, hạnh phúc là cuộc sống đủ đầy, là tiếng nói, trang phục, phong tục và sự gắn kết cộng đồng được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Giữa nhịp sống hiện đại, người Bố Y ở Mường Khương đang từng bước dựng xây cuộc sống ấm no, đồng thời lưu giữ và phát huy niềm tự hào nguồn cội. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu loạt bài (2 kỳ) “Bản làng hạnh phúc của người Bố Y”.

Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Bản làng hạnh phúc của người Bố Y: Bài cuối: Giữ “mạch nguồn” chảy mãi

Ở Thính Chéng, xã Mường Khương khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Bố Y, người ta thường tìm đến bà Lồ Lài Sửu. Ngoài 60 tuổi, bà vẫn miệt mài sưu tầm, ghi nhớ những làn điệu dân ca, phong tục, nghi lễ của dân tộc mình. Mỗi lần nói về người Bố Y, về giá trị văn hóa đã theo mình suốt cuộc đời, bà Sửu vẫn rưng rưng xúc động. 

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Hành trình đưa các liệt sĩ trở về

Xác định tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ quan trọng, thể hiện trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỉnh Lào Cai đã huy động cả hệ thống chính trị cùng chung tay tìm kiếm, đưa các chiến sĩ cách mạng còn nằm lại nơi chiến trường trở về với gia đình, quê hương.

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Phát triển hạ tầng nước sạch: Cần cơ chế để thu hút đầu tư

Lào Cai là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân bố rải rác, khiến việc đầu tư, vận hành các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi ngân sách Nhà nước chưa thể đáp ứng nhu cầu đầu tư, sửa chữa và vận hành, việc quy hoạch lại hạ tầng cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia đang rất cấp thiết.

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Tằng Loỏng: Mong chờ khu chợ dân sinh mới

Xã Tằng Loỏng là địa bàn đông dân cư, tập trung Khu công nghiệp luyện kim, hóa chất trọng điểm của quốc gia và tỉnh, với nhiều doanh nghiệp, nhà máy đang hoạt động. Thế nhưng, giữa nhịp phát triển công nghiệp sôi động, người dân và công nhân lao động vẫn phải mua bán trong một khu chợ tạm hình thành từ nhiều năm trước. Sự thiếu hụt hạ tầng thương mại đang trở thành nghịch lý cần được giải quyết.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành công trình thủy lợi

Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Nơi biên cương vững thế trận lòng dân

Trên mảnh đất biên giới A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, cùng với nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, cùng dân lo việc bản, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Từ những việc làm thường ngày, tình quân dân thêm bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững bình yên nơi biên cương.

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Hiệu quả từ mô hình "nuôi" rừng gỗ lớn ở Bảo Ái

Có một thời, cứ sau 5 - 6 năm, những cánh rừng keo ở Bảo Ái lại đồng loạt đến kỳ khai thác. Với kích thước vừa đủ làm nguyên liệu, gỗ được thương lái vào tận đồi thu mua. Người dân cầm trong tay vài chục triệu đồng rồi lại phát dọn, trồng lứa mới. Vòng quay ấy lặp đi lặp lại suốt nhiều năm khiến rừng tuy vẫn xanh nhưng cuộc sống của không ít hộ trồng rừng vẫn chưa khá lên bao nhiêu.

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Nối vùng sóng, mở cơ hội

Khi "vùng lõm" từng bước được phủ sóng, thông tin đến gần hơn với người dân, cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ, thị trường tiêu thụ cũng rộng mở hơn, tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.

fb yt zl tw