Tín dụng chính sách xã hội thay đổi cuộc sống người dân theo hướng bền vững

Tín dụng chính sách xã hội là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ vốn cho các hộ gia đình có thu nhập thấp, nhiều khó khăn tự vươn lên, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Tín dụng chính sách xã hội là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ vốn cho các hộ gia đình có thu nhập thấp, nhiều khó khăn tự vươn lên, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Ở đâu có người nghèo, ở đó có Ngân hàng chính sách xã hội

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiêm Chủ tịch HĐQT Ngân hàng chính sách xã hội Nguyễn Thị Hồng khẳng định, qua hơn 20 năm triển khai, chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo Nghị định 78/2002 của Chính phủ đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật; huy động được các nguồn lực tài chính để tạo lập nguồn vốn lớn, tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình tín dụng.

Đặc biệt, sau 8 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội, có thể khẳng định, chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác đã thực sự đi vào cuộc sống; là chính sách được triển khai rộng rãi nhất, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn của hộ nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực.

Chính sách tín dụng giúp người dân vươn lên thoát nghèo.

Theo đó, trong nhiều năm qua, nguồn vốn vay tín dụng chính sách đã mang lại sinh kế, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, vươn lên thoát nghèo bền vững, thúc đẩy bình đẳng giới, đồng thời góp phần ngăn chặn các tệ nạn cho vay nặng lãi, tín dụng “đen”, giúp đảm bảo an sinh, trật tự và an toàn xã hội tại các địa phương, nhất là ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ngân hàng chính sách xã hội đã thiết lập được mô hình quản trị và điều hành tác nghiệp gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đồng thời, xây dựng tổ chức thực hiện thành công phương thức quản lý vốn tín dụng chính sách thông qua hoạt động ủy thác cho Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên.

Đặc biệt, Ngân hàng chính sách xã hội đã tập trung huy động nguồn vốn lớn, đa dạng để thực hiện hiệu quả tín dụng chính sách xã hội, đáp ứng kịp thời và ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đến 31/7/2023, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đạt gần 325 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 190 nghìn tỷ đồng (gấp 2,4 lần) so với khi bắt đầu thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 10,4%. Đặc biệt, kể từ khi có Chỉ thị 40-CT/TW, 100% đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện đã cân đối, ủy thác vốn ngân sách địa phương sang Ngân hàng chính sách xã hội để bổ sung nguồn vốn cho vay với nguồn vốn nhận ủy thác đến nay đạt gần 35 nghìn tỷ đồng, tăng 30.863 tỷ đồng so với trước khi có Chỉ thị số 40-CT/TW.

Hộ nghèo và các đối tượng chính sách ở Thanh Hóa được được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ thông qua các Điểm giao dịch tại xã của Ngân hàng chính sách xã hội.

Cùng với đó, các chương trình tín dụng chính sách được triển khai có hiệu quả ở các vùng trong cả nước, đặc biệt ưu tiên tập trung cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo… đã góp phần thúc đầy nền kinh tế nhiều thành phần từng bước phát triển. Điển hình trong đó, đã góp phần giúp trên 2,1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho trên 1,3 triệu lao động, gần 350 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, xây dựng hơn 7,4 triệu công trình nước sạch, công trình vệ sinh. Người nghèo, người dân tộc thiểu số và những đối tượng yếu thế có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) bằng nguồn từ ngân sách nhà nước.

Đáng chú ý, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước qua các giai đoạn, cụ thể: Giai đoạn 2001 - 2005 từ 17% xuống 7%; giai đoạn 2005 - 2010 từ 22% xuống 9,45%; giai đoạn 2011 - 2015 từ 14,2% xuống 4,25%; giai đoạn 2016 - 2021 từ 9,88% xuống 2,23%. Đồng thời, góp phần thực hiện 09/19 tiêu chí xây dựng Nông thôn mới (về nhà ở dân cư; về thu nhập; tỷ lệ hộ nghèo; lao động có việc làm, tổ chức sản xuất; giáo dục và đào tạo; môi trường và an toàn thực phẩm; xây dựng hệ thống chính trị; quốc phòng và an ninh).

Phát huy hiệu quả tín dụng chính sách xã hội đảm bảo an sinh xã hội

Để tiếp tục phát huy hiệu quả tín dụng chính sách xã hội trong thực hiện Nghị quyết của Đảng về an sinh xã hội nói chung, thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW và Kết luận 06-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng nói riêng, trong thời gian tới, bà Nguyễn Thị Hồng cho biết, Ngân hàng chính sách xã hội tiếp tục tham mưu cho Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành Trung ương, Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW và Kết luận 06-KL/TW. Trong đó, tập trung nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội.

Tín dụng chính sách xã hội triển khai thực hiện tới từng hộ dân ở các bản, làng.

Cùng với đó, tiếp tục quan tâm bố trí ngân sách địa phương ủy thác cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn qua Ngân hàng chính sách xã hội. Đồng thời, thường xuyên báo cáo, tham mưu cho các cơ quan Đảng, Nhà nước và Quốc hội về hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Thường xuyên chủ động báo cáo, tham mưu Ban Kinh tế Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị và Kết luận của Đảng. Tiếp tục duy trì và thực hiện hiệu quả mô hình tổ chức, phương thức quản lý vốn tín dụng chính sách đặc thù, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Bên cạnh đó, Ngân hàng chính sách xã hội cũng tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng; đảm bảo mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn; triển khai và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ; mặt khác, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tạo tính chủ động và bền vững trong hoạt động Ngân hàng chính sách xã hội.

Báo Tài nguyên & Môi trường

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Phụ nữ Bảo Ái: Khi thông tin mở hướng phát triển kinh tế

Phụ nữ Bảo Ái: Khi thông tin mở hướng phát triển kinh tế

Không chỉ là nơi tập hợp hội viên, những năm gần đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Bảo Ái còn phát huy vai trò cầu nối, đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, kiến thức sản xuất và chuyển đổi số đến gần phụ nữ ở cơ sở. Thông qua các buổi sinh hoạt chi hội, nhóm Zalo và những mô hình tuyên truyền thiết thực, nhiều hội viên đã mạnh dạn đổi mới cách nghĩ, cách làm, phát triển kinh tế gia đình, từng bước nâng cao thu nhập, vươn lên thoát nghèo.

Mưa lớn làm ngập úng hơn 80 nhà dân, gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Mưa lớn làm ngập úng hơn 80 nhà dân, gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Đợt mưa lớn từ chiều 27 đến sáng 30/7 đã gây thiệt hại tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, đến sáng 30/7, mưa lũ đã ảnh hưởng đến 20 xã, phường gây thiệt hại lớn về nhà ở, sản xuất và hạ tầng giao thông, với tổng giá trị ước trên 8,64 tỷ đồng.

Lào Cai cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại 53 xã, phường trong 6 giờ tới

Lào Cai cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại 53 xã, phường trong 6 giờ tới

Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn cảnh báo, trong 6 giờ tới, nhiều khu vực trên địa bàn tỉnh Lào Cai tiếp tục có mưa với lượng phổ biến từ 10 - 20 mm, có nơi trên 50 mm, làm gia tăng nguy cơ xảy ra lũ quét trên các sông, suối nhỏ, sạt lở đất ở sườn đồi, taluy giao thông, sụt lún đất và ngập úng tại vùng trũng thấp, khu đô thị.

Chính sách gần dân, an sinh bền vững

Chính sách gần dân, an sinh bền vững

Đối với nhiều hộ dân ở vùng cao Lào Cai, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo và người cao tuổi, kinh tế còn nhiều khó khăn nên việc tham gia bảo hiểm y tế vẫn là khoản chi cần cân nhắc. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế của Nhà nước và của tỉnh đã trở thành điểm tựa để nhiều người dân tiếp tục duy trì thẻ bảo hiểm, bảo đảm quyền lợi khi khám, chữa bệnh.

Đưa cơ hội việc làm đến gần người dân

Đưa cơ hội việc làm đến gần người dân

Việc làm ổn định là điều kiện quan trọng để người dân nâng cao thu nhập, từng bước thoát nghèo bền vững. Cùng với phát triển các mô hình sản xuất tại chỗ, xã Bảo Ái đẩy mạnh đào tạo nghề, cung cấp thông tin tuyển dụng và hỗ trợ người lao động tiếp cận thị trường việc làm trong, ngoài tỉnh cũng như đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Để tuyến y tế cơ sở làm tốt vai trò "gác cổng"

Để tuyến y tế cơ sở làm tốt vai trò "gác cổng"

Buổi sáng ở Trạm Y tế xã Trạm Tấu, tỉnh Lào Cai bắt đầu từ rất sớm. Trong phòng khám còn khiêm tốn giữa vùng cao, tiếng gọi tên bệnh nhân xen lẫn tiếng máy đo huyết áp, tiếng trẻ nhỏ bi bô và lời dặn dò ân cần của cán bộ y tế.

Lá đơn xin ra khỏi hộ nghèo

Lá đơn xin ra khỏi hộ nghèo

Ở xã Bảo Ái, có những lá đơn không xin hỗ trợ mà tự nguyện xin ra khỏi diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. Những dòng chữ mộc mạc không chỉ thể hiện lòng tự trọng, ý chí tự lực của người dân mà còn cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức: chính sách giảm nghèo là điểm tựa để vươn lên, không phải chỗ dựa lâu dài.

fb yt zl tw