Thị phần vận tải đường sắt ngày càng giảm sút, chính sách ưu đãi chưa được triển khai

Hệ thống vận tải Việt Nam đang quá phụ thuộc vào đường bộ, loại hình vận tải giá thành cao, tiêu hao nhiều nguồn lực của quốc gia, với lượng tiêu thụ hàng chục triệu tấn xăng dầu/năm, gây ô nhiễm môi trường.

Chuyến tàu liên vận quốc tế khởi hành từ ga Kép (Bắc Giang).

Trong khi đó, Chiến lược phát triển Giao thông vận tải (GTVT) đường sắt, nhất là xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc Nam chưa được quan tâm đúng mức. Thị phần vận tải đường sắt ngày càng giảm sút, chính sách ưu đãi chưa được triển khai. Không huy động được nguồn vốn ngoài ngân sách cho đầu tư phát triển đường sắt. Mô hình quản lý, hoạt động, vận hành còn lạc hậu...

Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV, đại biểu Quốc hội Huỳnh Thanh Phương, Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Tây Ninh đã có Phiếu chất vấn bằng văn bản đối với Bộ trưởng Bộ GTVT, đề nghị Bộ trưởng cho biết giải pháp để xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, nhất là đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước...

Về nội dung này, Bộ trưởng Bộ GTVT cho biết, vận tải đường sắt là phương thức có nhiều ưu thế về chi phí với cự ly vận tải từ trung bình đến dài; an toàn, thuận tiện, tiện nghi, ít ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên; thích hợp nhất với những hành lang vận tải hành khách, hàng hóa có nhu cầu vận tải rất lớn và vận tải hành khách đô thị.

Những năm 1980, thị phần vận tải đường sắt ở nước ta đã từng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành (thị phần hành khách khoảng 29,2%, hàng hóa khoảng 7,5%). Tuy nhiên, thời gian gần đây, với sự phát triển và cạnh tranh mạnh của vận tải đường bộ, hàng không, hàng hải, trong khi chất lượng kết cấu hạ tầng, phương tiện, thiết bị, công nghệ đường sắt lạc hậu; khả năng kết với các phương thức vận tải khác, các đầu mối vận tải, liên vận quốc tế còn bất cập; tổ chức quản lý, khai thác đường sắt chưa đáp ứng yêu cầu thị trường.

Do vậy, thị phần vận tải đường sắt đã sụt giảm theo từng năm. Đến năm 2022, thị phần vận tải đường sắt toàn ngành (hành khách chiếm khoảng 0,61%, hàng hóa chiếm khoảng 1,05%). Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, bất cập nêu trên, đó là: Dự án đầu tư công trình đường sắt có quy mô lớn, thời gian dài dẫn đến khó khăn trong bố trí nguồn lực. Nhu cầu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nói chung và đường sắt nói riêng rất lớn trong khi nguồn lực hạn chế. Đầu tư đường sắt chưa hấp dẫn về tài chính để thu hút nhà đầu tư.

Tư duy, nhận thức đối với phương thức vận tải đường sắt chưa đầy đủ. Thiếu cơ chế chính sách mang tính đột phá để huy động nguồn lực. Chưa ưu tiên bố trí nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng đường sắt. Quy hoạch không gian phát triển kinh tế rời rạc, thiếu gắn kết giữa đường sắt với phát triển đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp... Nguồn nhân lực, trình độ khoa học - công nghệ và công nghiệp đường sắt còn hạn chế, yếu kém. Phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương triển khai quy hoạch, dự án chưa thực sự chặt chẽ. Công tác giải phóng mặt bằng khó khăn, đặc biệt đối với đường sắt đô thị.

Để khắc phục những bất cập của lĩnh vực đường sắt trong thời gian qua và tạo động lực phát triển trong thời gian tới, Bộ GTVT đã lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và phê duyệt kế hoạch, chính sách, giải pháp và nguồn lực thực hiện quy hoạch mạng lưới đường sắt; xây dựng Đề án tổng kết thực hiện chiến lược phát triển đường sắt, tham mưu Ban cán sự đảng Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 49- KL/TW ngày 28/2/2023 về định hướng phát triển đường sắt.

Trong đó, đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu để xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt để tiếp tục đẩy mạnh phát triển giao thông vận tải đường sắt. Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, lợi thế của phương thức vận tải đường sắt. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các cơ chế, chính sách để ưu đãi, đột phá để khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển lĩnh vực đường sắt; tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến trình đầu tư các tuyến đường sắt đô thị.

Ưu tiên nguồn lực thích đáng trong các kế hoạch đầu tư công trung hạn, khai thác hiệu quả nguồn lực từ quỹ đất, nguồn lực ngoài ngân sách cho phát triển giao thông vận tải đường sắt; đa dạng hóa nguồn vốn, các hình thức, phương thức đầu tư các dự án đường sắt, đẩy mạnh đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệp gắn kết với các tuyến, khu ga đường sắt (TOD) để tạo ra không gian phát triển mới, tạo tiền đề huy động vốn, khai thác, vận tải đường sắt.

Trong đó, đối với đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, phấn đấu hoàn thành phê duyệt chủ trương đầu tư dự án trong năm 2025, khởi công các đoạn ưu tiên trong giai đoạn 2026 - 2030; đối với đường sắt đô thị, hoàn chỉnh mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vào năm 2035; đối với các tuyến đường sắt quốc gia khác, tập trung cải tạo, nâng cấp, khai thác có hiệu quả các tuyến đường sắt hiện có và phấn đấu khởi công một số tuyến kết nối các cảng biển cửa ngõ quốc tế, cửa khẩu quốc tế, cảng hàng không quốc tế, đường sắt khu đầu mối, đầu tư đường sắt TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ và tiếp tục đầu tư hoàn thành tuyến Hà Nội - Hạ Long trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.

Đẩy mạnh xã hội hóa trong kinh doanh vận tải đường sắt, dịch vụ hỗ trợ vận tải; thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phương tiện, các công trình hỗ trợ cho hoạt động vận tải. Kiện toàn mô hình tổ chức, quản lý khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị; nâng cao năng lực, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về đường sắt. Triển khai các chính sách phát triển công nghiệp và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt; tăng cường hợp tác quốc tế chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực đường sắt, đặc biệt là đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao.

Theo Báo Tin tức

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Từ sức dân đến động lực phát triển nông nghiệp

Từ sức dân đến động lực phát triển nông nghiệp

96 năm qua, Hội Nông dân Việt Nam luôn đồng hành với giai cấp nông dân trong từng bước phát triển của đất nước. Tại Lào Cai, sức mạnh ấy đang được tiếp thêm bằng tri thức, công nghệ, liên kết và khát vọng vươn lên, để nông dân không chỉ là người sản xuất mà thực sự trở thành chủ thể kiến tạo phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Thôn Sân Bay chuyển mình

Thôn Sân Bay chuyển mình

Sau khi sáp nhập với thôn Gốc Quân, thôn Sân Bay, xã Đông Cuông, có không gian phát triển rộng hơn, từ vùng lúa, rau màu đến đồi rừng. Phát huy lợi thế từng khu vực, người dân đang đa dạng hóa sản xuất, mở hướng phát triển kinh tế cho thôn mới.

Doanh nhân cựu chiến binh Lào Cai vững vàng trên thương trường

Doanh nhân cựu chiến binh Lào Cai vững vàng trên thương trường

Rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, nhiều cựu chiến binh tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận phát triển kinh tế. Bằng ý chí, nghị lực và tinh thần dám nghĩ, dám làm, những người từng khoác áo lính, nay trực tiếp điều hành doanh nghiệp, tìm kiếm thị trường, tạo việc làm và gánh vác trách nhiệm với người lao động, đóng góp vào sự phát triển của địa phương.

“Hoa nở” trên đồi quế

“Hoa nở” trên đồi quế

Tận dụng lợi thế đất đồi, chị Nguyễn Thị Nga, Chi hội phó Chi hội Phụ nữ thôn Đoàn Kết, xã Bảo Ái đã phát triển cây quế gắn với thu mua, chế biến nguyên liệu. Với 20 ha quế của gia đình, cùng hướng đi chủ động trong sản xuất, kinh doanh, mô hình của chị mang lại thu nhập khoảng 500 triệu đồng mỗi năm, đồng thời tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.

Cảnh giác hàng giả, hàng kém chất lượng trên “chợ mạng”

Cảnh giác hàng giả, hàng kém chất lượng trên “chợ mạng”

Mua sắm qua mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử mang lại nhiều thuận tiện, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc. Tại Lào Cai, cùng với sự vào cuộc của lực lượng chức năng, người tiêu dùng cần thận trọng lựa chọn sản phẩm, chủ động bảo vệ quyền lợi của mình.

Bảo đảm sinh kế của người dân gắn với bảo vệ rừng

Bảo đảm sinh kế của người dân gắn với bảo vệ rừng

Từ những lối mòn đến những tuyến đường bê tông vươn tới các bản làng vùng cao, giao thông đang mở thêm cơ hội phát triển sản xuất, nâng cao đời sống người dân. Nhưng khi đường thông, người và phương tiện cũng dễ dàng tiếp cận những cánh rừng phòng hộ. Làm thế nào để mỗi tuyến đường mở ra thực sự trở thành đường phát triển, đồng thời vẫn giữ được màu xanh của núi rừng?

Lào Cai: Vốn vay ưu đãi tiếp sức tạo việc làm bền vững

Lào Cai: Vốn vay ưu đãi tiếp sức tạo việc làm bền vững

Xác định giải quyết việc làm là nhiệm vụ trọng tâm trong bảo đảm an sinh xã hội, những năm qua, tỉnh Lào Cai đã chú trọng phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách. Thông qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, nguồn vốn ưu đãi đã tiếp sức cho người dân phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.

Sức bật từ không gian phát triển mới

Sức bật từ không gian phát triển mới

Không gian phát triển sau hợp nhất tỉnh, các dự án hạ tầng chiến lược và chủ trương phát triển kinh tế tư nhân đang đem lại cơ hội mới cho doanh nghiệp Lào Cai. Chuyển cơ hội thành sản phẩm, thị trường và việc làm đòi hỏi doanh nghiệp chủ động đổi mới, tăng cường liên kết bằng các giải pháp cụ thể.

fb yt zl tw