Thành quả nghìn năm cuộc chiến Sơn Tinh - Thủy Tinh

Thủ tướng yêu cầu các bí thư, chủ tịch tỉnh, thành phố có liên quan không chủ quan, lơ là; huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc; đôn đốc, kiểm tra công tác phòng, chống lũ, hộ đê.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo công tác tìm kiếm nạn mất tích do sạt lở đất tại làng Nủ.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo công tác tìm kiếm nạn mất tích do sạt lở đất tại làng Nủ.

Ngày 11/9/2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 93/CĐ-TTg về việc tập trung ứng phó lũ lớn, đảm bảo an toàn đê điều trên các sông ở Bắc Bộ, nhất là hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình.

Thủ tướng yêu cầu các bí thư, chủ tịch tỉnh, thành phố có liên quan không chủ quan, lơ là; huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc; phân công thường vụ, thường trực ủy ban trực tiếp tới các địa bàn trọng điểm để lãnh đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác phòng, chống lũ, hộ đê; rà soát, kiểm tra, triển khai trên thực tế phương án bảo vệ các trọng điểm đê điều xung yếu theo phương châm "bốn tại chỗ."

Nhiều sông, lắm lũ

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình vào khoảng 1.940 mm/năm nhưng phân bố không đều và biến đổi theo thời gian, hình thành các miền khí hậu khác nhau rõ rệt.

Khí hậu được chia ra làm hai đới lớn: Miền Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa, độ ẩm cao. Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa (mùa khô và mùa mưa).

Ở hai đầu đất nước có hai đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là vùng đồng bằng sông Hồng rộng 16.700km2 và vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng 40.000km2.

Mạng lưới sông ngòi rất dày đặc (2.360 con sông), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc-Đông Nam và vòng cung. Hệ thống các sông, suối hằng năm được bổ sung 310 tỷ m3 nước. Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn, lượng nước trong mùa lũ chiếm tới 70 - 80% cả năm và thường gây ra lũ lụt.

Với đặc điểm tự nhiên, khí hậu như vậy nên Việt Nam thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là lũ, lụt, bão. Câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh chính là một cách thức thể hiện cuộc chiến ác liệt chống lũ lụt của ông cha ta.

Vùng đồng bằng sông Hồng (lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình) được hình thành bởi 2 hệ thống sông: sông Hồng (gồm 3 sông lớn là Đà, Thao, Lô) và hệ thống sông Thái Bình (gồm 3 sông lớn là Cầu, Thương, Lục Nam) có diện tích lưu vực 169.020km2, trong đó phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam là 86.720km2 chiếm 51% tổng diện tích, phần còn lại thuộc địa phận Lào và Trung Quốc.

Nước sông Hồng đang rút (ảnh chụp 8h15, ngày 13/9/2024).
Nước sông Hồng đang rút (ảnh chụp 8h15, ngày 13/9/2024).

Địa thế chung của hệ thống sông Hồng rất hiểm trở (47% chiều dài có độ cao trên 1.000m), phần đất bằng chỉ phân bố nhỏ lẻ dọc thung lũng của các sông lớn. Do phần lớn diện tích là miền núi (chiếm 87%) với địa hình dốc và tập trung nhiều tâm mưa lớn nên khu vực thượng nguồn tích nước nhanh và tạo ra lũ lớn đổ về đồng bằng trong mùa mưa bão (lưu lượng trận lũ lịch sử năm 1971 tại Sơn Tây lên đến 37.800m3/s).

Trung bình hằng năm vùng đồng bằng sông Hồng nhận 4 trận bão từ Biển Đông gây nhiều mưa từ tháng 5 đến tháng 10, tạo ra lũ lụt (tháng 7 và tháng 8 thường có lũ lớn). Vào mùa lũ nguồn nước chiếm khoảng 70 % lượng nước cả năm.Nhiều trận lũ gây ra thiệt hại lớn cả về người và tài sản đã xảy ra, điển hình là những trận lũ trong các năm 1915, 1945, 1969, 1971, 1996.

"Lụt cả làng - thiếp, chàng cùng lo"

Các con đê ở Việt Nam đã được bồi đắp dần qua hàng nghìn năm và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, tài sản người dân.

Theo Giao Châu Ký của Trung Hoa, thì khoảng 3 thế kỷ trước công nguyên ở Giao Châu (một châu hoặc phủ thời xưa, bao trùm vùng đất miền Bắc Việt Nam ngày nay) đã có đê lớn. Trong các sách lịch sử Việt Nam, đê được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm 521 dưới thời Lý Bí (tức Lý Bôn). Hệ thống đê sông Hồng được hoàn chỉnh dưới thời vua Trần Thái Tông (trị vì năm 1226 - năm 1258).

Trải qua các triều đại, hệ thống đê điều từng bước được bổ sung cả về quy mô và phạm vi bảo vệ.

Cuốn sách “Lịch sử đê điều Việt Nam” (Tổng cục Phòng, chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) viết: Đồng thời với việc hình thành các tuyến đê thì cũng hình thành tổ chức và quy chế quản lý đê. Triều Nguyễn năm 1809 ban hành điều lệ về đê điều, năm 1857 bắt đầu thành lập cơ quan phụ trách về đê. Từ đó đến nay, đặc biệt sau năm 1945, hệ thống đê điều chống lũ đã phát triển cả về quy mô, khối lượng, mở rộng ra trên hầu hết các vùng miền cả nước.

Hệ thống đê điều của Việt Nam hiện có quy mô lớn với tổng số chiều dài là 9.080km (5.547km đê sông, 1.343km đê cửa sông, 1.150km đê biển), trong đó có 2.727km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt.

Đây là thành quả của cuộc chiến chống Thủy Tinh bền bỉ của dân tộc ta.

Riêng chiều dài hệ thống đê sông trong vùng đồng bằng sông Hồng là 3.000km. Hệ thống sông Hồng có 1.667km đê và 750km đê thuộc hệ thống sông Thái Bình. Hệ thống đê sông Hồng có quy mô lớn và hoàn thiện hơn so với các hệ thống đê còn lại. Các đê sông thường có độ cao không quá 10m. Đặc điểm lũ ở vùng đồng bằng sông Hồng là không dữ dội như lũ ở miền Trung, nhưng cũng không hiền hòa như lũ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tùy theo tầm quan trọng kinh tế và số dân cư của địa phương, dựa vào đợt lũ lớn nhất thế kỷ năm 1971 mà 5 cấp đê đã được thiết kế. Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê Hà Nội là bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên (13,4 m), thoát được lưu lượng tối thiểu (20,000 m3/s).

Cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 102 hỗ trợ người dân đắp bao tải đất gia cố đê sông Tích.
Cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 102 hỗ trợ người dân đắp bao tải đất gia cố đê sông Tích.

Theo Tổng cục Phòng, chống thiên tai, trong thời gian qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực xây dựng, quản lý đê điều và phòng chống lũ lụt, bảo vệ cuộc sống yên bình của người dân nhờ các yếu tố sau:

Điều quan trọng nhất là xác định đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của đê trong công cuộc phòng, chống lũ lụt nhằm bảo vệ cuộc sống của nhân dân, phát triển sản xuất. Thời kỳ nào chính quyền coi trọng, xác định đúng vị trí, vai trò của đê thì đều hạn chế được những tác hại của lũ lụt. Ngược lại, hậu quả do lũ lụt gây ra sẽ rất lớn.

Luật Đê điều năm 2006 khẳng định: Nguyên tắc hoạt động trong lĩnh vực đê điều là “đảm bảo phát triển bền vững, quốc phòng, an ninh; bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chủ quyền và lợi ích quốc gia; góp phần phát triển kinh tế - xã hội.”

Một điều nữa rất có ý nghĩa là sự hình thành và phát triển của hệ thống đê điều của Việt Nam từ nghìn năm qua nhờ vào sự đoàn kết, kiên cường và sáng tạo của nhiều thế hệ người dân trong cuộc chiến chống thiên tai, lũ lụt theo tinh thần “Đã lụt là lút cả làng. Thế nên cả thiếp, cả chàng cùng lo.”

Trong lịch sử xây dựng đê điều của Việt Nam, nhà nước đóng một vai trò quan trọng. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ thời Lý, Trần, Lê đến thời Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách, xuất ngân khố, thành lập các cơ quan, chức quan trông coi việc đắp và bảo vệ đê.

Từ sau năm 1945, Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác xây dựng đê điều, đề ra các chủ trương, ban hành chính sách, lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư vốn, quản lý, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, huy động nhân lực, tổ chức, động viên nhân nhân tham gia xây dựng và bảo vệ đê.

Đây là một trong những nhân tố cơ bản, tạo ra những thành tựu lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đê điều ở Việt Nam.

Theo vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Để tiếng Anh trở thành niềm đam mê của học sinh

Để tiếng Anh trở thành niềm đam mê của học sinh

Trong kỷ nguyên số hiện nay, ngoại ngữ không đơn thuần là một môn học mà ngày càng trở thành công cụ quan trọng giúp thế hệ trẻ mở rộng tri thức, tự tin hội nhập. Nhận thức rõ điều đó, nhiều trường học trên địa bàn tỉnh Lào Cai đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới toàn diện phương pháp giảng dạy, từng bước đưa tiếng Anh trở thành môn học yêu thích, khơi gợi niềm đam mê tự thân trong mỗi học sinh.

Vì một thế hệ không còn nỗi lo thiếu máu huyết tán

Vì một thế hệ không còn nỗi lo thiếu máu huyết tán

Thalassemia hay bệnh tan máu bẩm sinh là một nhóm bệnh huyết sắc tố gây thiếu máu, tan máu di truyền. Bệnh Thalassemia đang âm thầm ảnh hưởng đến rất nhiều trẻ em, buộc các em phải gắn bó với bệnh viện, với những lần truyền máu kéo dài suốt cuộc đời. Đằng sau đó là những nỗi lo thường trực của gia đình và những nỗ lực không ngừng của đội ngũ y tế, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác sàng lọc, phòng bệnh từ sớm.

Trên 400 người tham gia Ngày hội hiến máu tình nguyện hè 2026 tại Lào Cai

Trên 400 người tham gia Ngày hội hiến máu tình nguyện hè 2026 tại Lào Cai

Sáng 09/5, Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện tỉnh Lào Cai, Hội Chữ thập đỏ tỉnh phối hợp với Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh, Bệnh viện Đa khoa số 3 tỉnh và Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện phường Nghĩa Lộ tổ chức chương trình hiến máu tình nguyện hè năm 2026 với chủ đề “Trao giọt máu hồng, gieo hy vọng sống”.

Cần sớm tiếp tục thi công đường qua thôn Xuân Khánh, xã Khánh Yên

Cần sớm tiếp tục thi công đường qua thôn Xuân Khánh, xã Khánh Yên

Dù người dân đã chủ động phá dỡ tường rào, cổng nhà, cây trồng… để bàn giao mặt bằng từ lâu, nhưng đoạn cuối dài 1,4km, thuộc Dự án Nâng cấp đường thị trấn Khánh Yên đi các xã Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Trung, Khánh Yên Hạ, Liêm Phú, huyện Văn Bàn cũ, nay thuộc xã Khánh Yên, tỉnh Lào Cai, vẫn chưa thể hoàn thiện. Sự chậm trễ không chỉ gây lãng phí nguồn lực, mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông.

Dạy con trong thời đại số

Dạy con trong thời đại số

Điện thoại thông minh, máy tính bảng hay internet ngày càng trở nên quen thuộc trong nhiều gia đình. Trẻ em tiếp xúc với công nghệ từ sớm, mở ra cơ hội học tập mới nhưng cũng khiến nhiều phụ huynh trăn trở trong việc dạy con sử dụng thiết bị số đúng cách giữa môi trường số đầy hấp dẫn và phức tạp.

Sôi nổi Cuộc thi “Tuyên truyền viên giỏi Mặt trận Tổ quốc trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá” tỉnh Lào Cai

Sôi nổi Cuộc thi “Tuyên truyền viên giỏi Mặt trận Tổ quốc trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá” tỉnh Lào Cai

Trong 2 ngày 07 và 08/5, Viện Đào tạo bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học phối hợp cùng Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức Cuộc thi “Tuyên truyền viên giỏi Mặt trận Tổ quốc trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá” tỉnh Lào Cai năm 2026.

Dấu ấn tuổi trẻ trên những công trình nông thôn mới

Dấu ấn tuổi trẻ trên những công trình nông thôn mới

Trên những cung đường uốn lượn hùng vĩ, từ các khu dân cư đô thị đến những thôn, bản xa xôi, không khó để bắt gặp màu áo xanh tình nguyện bên những công trình hạ tầng hay những mô hình kinh tế số. Tuổi trẻ Lào Cai đang khẳng định vai trò, tầm vóc của mình trong công cuộc góp sức xây dựng quê hương.

Xã Hạnh Phúc tổ chức chương trình hiến máu tình nguyện tháng 5

Xã Hạnh Phúc tổ chức chương trình hiến máu tình nguyện tháng 5

Sáng 08/5, Ban chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện xã Hạnh Phúc phối hợp với Ban Chỉ đạo vận động Hiến máu tình nguyện tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Bệnh viện Đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai và Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương tổ chức Chương trình hiến máu tình nguyện tháng 5.

fb yt zl tw