Tạo sự đồng thuận, huy động nguồn lực phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Giao thông nông thôn không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại mà còn quyết định khả năng kết nối vùng sản xuất, vận chuyển nông sản, phát triển du lịch và mở rộng sinh kế cho người dân. 

0:00 / 0:00
0:00

Với địa hình miền núi chia cắt, nhiều khu vực vùng cao, vùng xa còn khó khăn, Lào Cai xác định phát triển giao thông nông thôn là nhiệm vụ quan trọng, trong đó ưu tiên những tuyến đường có khả năng mở rộng không gian sản xuất, tạo điều kiện để người dân phát huy lợi thế của địa phương. Để giải quyết khối lượng công việc lớn trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, tỉnh tập trung huy động sức dân, đổi mới cơ chế hỗ trợ, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở và gắn đầu tư giao thông với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Theo số liệu của ngành Xây dựng, toàn tỉnh hiện có hơn 15.000 km đường giao thông nông thôn, tỷ lệ cứng hóa đạt khoảng 73%. Như vậy, vẫn còn gần 4.000 km đường đất và đường cấp phối cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp. Gần 89% số tuyến đường mới đạt cấp kỹ thuật thấp. Nhiều tuyến đường trục thôn có nền đường rộng khoảng 4 m, mặt đường chưa đến 3 m, gây khó khăn cho ô tô vận chuyển hàng hóa. Toàn tỉnh còn hơn 300 cầu và ngầm tràn cần sửa chữa hoặc xây dựng mới.

Những con số trên phản ánh khoảng cách giữa nhu cầu đi lại, sản xuất của người dân với khả năng đáp ứng của mạng lưới giao thông nông thôn. Ở nhiều khu vực, đường hẹp khiến xe tải khó tiếp cận vùng nguyên liệu; đường đất làm tăng chi phí vận chuyển, nhất là vào mùa mưa. Một điểm sạt lở hoặc một ngầm tràn bị hư hỏng có thể chia cắt cả khu dân cư, ảnh hưởng đến việc đi học, khám chữa bệnh và lưu thông hàng hóa.

Đối với một tỉnh có thế mạnh về quế, chè, cây ăn quả, nông nghiệp hàng hóa và du lịch cộng đồng như Lào Cai, những hạn chế về giao thông còn tác động trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm. Người dân có thể đầu tư giống, phân bón, công chăm sóc để nâng cao chất lượng nông sản, nhưng nếu đường vào vùng sản xuất không thuận lợi thì chi phí vận chuyển vẫn cao, khả năng tiếp cận thương lái và thị trường vẫn bị hạn chế. Bởi vậy, phát triển giao thông nông thôn không thể chỉ tính bằng số kilômét đường được xây dựng, mà phải tính bằng khả năng kết nối và những lợi ích kinh tế mà tuyến đường mang lại.

Huy động nguồn lực từ sự đồng thuận của Nhân dân

Ông Đoàn Đức Thuận - Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai chia sẻ: Trong điều kiện ngân sách còn phải phân bổ cho nhiều nhiệm vụ phát triển, nếu chỉ dựa vào đầu tư công theo trình tự thông thường, việc hoàn thiện mạng lưới giao thông nông thôn sẽ cần nhiều thời gian. Lào Cai lựa chọn hướng đi phù hợp với điều kiện miền núi: Nhà nước hỗ trợ, Nhân dân tham gia đóng góp đất đai, ngày công, vật liệu và kinh phí theo khả năng, trên cơ sở tự nguyện, công khai, minh bạch.

Chủ trương này được triển khai trên cơ sở Nghị quyết số 46 của Tỉnh ủy, cụ thể hóa tại Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh và tiếp tục được điều chỉnh, bổ sung bằng Nghị quyết số 33/2026/NQ-HĐND ngày 11/8/2026. Các chính sách từng bước tháo gỡ khó khăn về mức hỗ trợ, thủ tục đầu tư và tổ chức thi công, tạo điều kiện để nguồn lực Nhà nước kết hợp hiệu quả hơn với nguồn lực trong cộng đồng.

Thực tế giai đoạn 2021 - 2025, người dân trong tỉnh đã đóng góp khoảng 1.380 tỷ đồng cho phát triển giao thông nông thôn. Đây là nguồn lực đáng kể, thể hiện vai trò chủ thể của Nhân dân trong xây dựng hạ tầng tại cơ sở. Đóng góp của người dân không chỉ nằm ở giá trị kinh tế mà còn thể hiện qua việc hiến đất, tự nguyện tháo dỡ công trình, di chuyển tài sản và cùng chính quyền giải quyết những khó khăn trong quá trình mở đường.

70 hộ dân tại xã Việt Hồng hiến đất mở tuyến đường dài 3,8 km
70 hộ dân tại xã Việt Hồng hiến đất mở tuyến đường dài 3,8 km

Tại xã Xuân Quang, hơn 500 hộ dân đã hiến khoảng 85.000 m² đất để phục vụ xây dựng đường giao thông. Ở xã Việt Hồng, gần 70 hộ dân hiến đất mở tuyến đường dài 3,8 km; có gia đình chặt bỏ hơn 400 cây quế đang cho thu hoạch để dành mặt bằng cho công trình. Những đóng góp ấy cho thấy khi người dân hiểu rõ lợi ích, được tham gia bàn bạc và thấy được hiệu quả thiết thực đối với đời sống, họ sẵn sàng chia sẻ lợi ích trước mắt để tạo điều kiện phát triển lâu dài.

Tuy nhiên, vận động Nhân dân tham gia xây dựng đường giao thông không thể chỉ dựa vào tinh thần hưởng ứng phong trào. Mỗi công trình phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, có phương án kỹ thuật phù hợp, xác định rõ nguồn lực và trách nhiệm của từng bên. Chính quyền cơ sở phải công khai danh mục công trình, mức hỗ trợ của Nhà nước, phần đóng góp dự kiến và phương án tổ chức thi công để người dân cùng bàn bạc, giám sát.

Đặc biệt, sự đóng góp phải hoàn toàn tự nguyện, không bình quân hóa mức đóng góp, không gây áp lực đối với hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn. Việc hỗ trợ đo đạc, chỉnh lý hồ sơ đất đai đối với các hộ hiến đất cũng cần được thực hiện đầy đủ, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân. Khi quyền lợi được tôn trọng, thông tin minh bạch và công trình thực sự phục vụ cộng đồng, sự đồng thuận sẽ trở thành nền tảng vững chắc để huy động nguồn lực lâu dài.

Đổi mới cơ chế để ngân sách phát huy hiệu quả

Năm 2026, các địa phương trong tỉnh đăng ký thực hiện 651 công trình giao thông nông thôn với tổng chiều dài 736 km. Trong đợt triển khai đầu tiên theo Nghị quyết số 22 của HĐND tỉnh, các địa phương đã khởi công hơn 200 công trình, chiều dài khoảng 262 km, với kinh phí tỉnh hỗ trợ khoảng 374,3 tỷ đồng. Khối lượng thực hiện gồm mở mới hơn 28 km nền đường, mở rộng hơn 103 km nền đường, làm mới hơn 48 km mặt đường bê tông xi măng và mở rộng thêm hơn 35 km mặt đường.

Với khoảng 262 km đường được triển khai, mức hỗ trợ bình quân tương ứng khoảng 1,43 tỷ đồng/km. Mức chi phí này thấp hơn đáng kể so với nhiều công trình thực hiện theo trình tự đầu tư xây dựng cơ bản thông thường. Việc người dân hiến đất, góp công và tham gia thi công giúp giảm chi phí giải phóng mặt bằng, nhân công và một số khoản chi khác, qua đó tăng khối lượng công trình có thể thực hiện từ nguồn ngân sách hỗ trợ.

Dù vậy, quá trình triển khai đợt đầu cũng bộc lộ những vướng mắc. Một số công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản nhưng vẫn gặp khó khăn khi tổ chức lựa chọn nhà thầu; mức hỗ trợ chưa bao quát đầy đủ các hạng mục, trong khi giá vật liệu tăng khiến phần đóng góp của người dân có thể trở thành gánh nặng. Những bất cập này cho thấy cơ chế huy động nguồn lực chỉ phát huy hiệu quả khi chính sách hỗ trợ sát thực tế và thủ tục đầu tư phù hợp với quy mô công trình.

Nghị quyết số 33/2026/NQ-HĐND đã bổ sung các nội dung hỗ trợ, trong đó có hỗ trợ 100% chi phí trực tiếp làm móng đường, cống, rãnh, cọc tiêu, biển báo; hỗ trợ 70% chi phí nhân công đối với các xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn. Việc gắn quản lý, sử dụng vốn của các dự án với quy định về chương trình mục tiêu quốc gia còn tạo cơ sở áp dụng cơ chế đầu tư đặc thù theo Nghị định số 358 của Chính phủ, phù hợp với điều kiện và tính chất của công trình.

Theo cơ chế này, những công trình đủ điều kiện có thể áp dụng quy trình lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đơn giản, giao cộng đồng dân cư, tổ, nhóm thợ tại chỗ thi công theo quy định thay vì tổ chức đấu thầu như trước. Ngày công đóng góp của người dân được quy đổi thành tiền và tính vào giá trị công trình theo quy định.

Việc điều chỉnh chính sách có ý nghĩa thiết thực đối với những công trình nhỏ, phân tán tại vùng cao. Người dân địa phương hiểu địa hình, nắm rõ nhu cầu sử dụng và có thể trực tiếp tham gia thi công, giám sát. Nguồn lực được huy động ngay tại chỗ, thời gian tổ chức thực hiện có thể rút ngắn, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập cho lao động tại cộng đồng. Tuy nhiên, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với giảm yêu cầu về chất lượng, an toàn và trách nhiệm quản lý vốn. Mọi công trình vẫn phải bảo đảm hồ sơ, dự toán, giám sát, nghiệm thu và thanh quyết toán theo quy định.

Một kinh nghiệm quan trọng được rút ra từ quá trình triển khai là vai trò của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu. Nơi nào lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo, phân công rõ người phụ trách, công khai tiến độ và chủ động tháo gỡ vướng mắc, nơi đó việc vận động người dân và tổ chức thi công thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu chỉ giao nhiệm vụ chung mà thiếu kiểm tra, đôn đốc, các công trình dễ chậm tiến độ, khó huy động nguồn lực và không phát huy được tinh thần cộng đồng.

Việc người dân hiến đất, góp công và tham gia thi công giúp giảm chi phí giải phóng mặt bằng, nhân công và một số khoản chi khác, qua đó tăng khối lượng công trình có thể thực hiện từ nguồn ngân sách hỗ trợ
Việc người dân hiến đất, góp công và tham gia thi công giúp giảm chi phí giải phóng mặt bằng, nhân công và một số khoản chi khác, qua đó tăng khối lượng công trình có thể thực hiện từ nguồn ngân sách hỗ trợ

Đường giao thông phải đi trước, mở lối cho sản xuất

Giá trị của một tuyến đường không dừng ở việc rút ngắn quãng đường đi lại. Với khu vực nông thôn, đường giao thông còn quyết định khả năng đưa máy móc, vật tư đến vùng sản xuất, vận chuyển nông sản đến điểm thu mua, kết nối các cơ sở chế biến và đưa khách du lịch đến với cộng đồng.

Quan điểm “đường giao thông phải đi trước, để mở lối cho sản xuất” cần trở thành tiêu chí xuyên suốt trong lựa chọn danh mục đầu tư. Thay vì chỉ tập trung vào số lượng công trình hoặc chiều dài đường được xây dựng, các cấp, các ngành cần đánh giá rõ tuyến đường phục vụ bao nhiêu hộ dân, kết nối vùng nguyên liệu nào, tháo gỡ khó khăn gì trong vận chuyển hàng hóa và tạo thêm cơ hội phát triển sinh kế ra sao.

Đường giao thông phải đi trước, để mở lối cho sản xuất
Đường giao thông phải đi trước, để mở lối cho sản xuất

Đối với vùng quế, chè và cây ăn quả, ưu tiên những tuyến đường kết nối khu dân cư với vùng trồng tập trung sẽ giúp người dân thuận lợi hơn khi đưa vật tư vào sản xuất và vận chuyển sản phẩm ra thị trường. Khi ô tô có thể tiếp cận gần khu vực thu hoạch, nông sản giảm thời gian trung chuyển, giảm công bốc xếp và chi phí vận tải. Người sản xuất cũng có thêm điều kiện chủ động lựa chọn thời điểm bán hàng, kết nối với hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và cơ sở chế biến.

Tại các khu vực có tiềm năng du lịch cộng đồng, đường giao thông thuận lợi giúp kết nối điểm du lịch với trung tâm xã, các tuyến giao thông chính và những điểm tham quan lân cận. Người dân có điều kiện phát triển dịch vụ lưu trú, ăn uống, trải nghiệm sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm địa phương. Đối với những khu vực biên giới, đường giao thông còn góp phần tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh và kết nối các điểm dân cư.

Từ góc độ đầu tư, lựa chọn đúng tuyến đường có ý nghĩa không kém việc huy động đủ vốn. Một tuyến đường có thể hoàn thành nhanh nhưng hiệu quả kinh tế thấp nếu không kết nối với vùng sản xuất, khu dân cư hoặc mạng lưới giao thông hiện có. Ngược lại, một tuyến đường được lựa chọn đúng vị trí, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và có khả năng kết nối đồng bộ có thể tạo ra lợi ích cho nhiều hộ dân, cơ sở sản xuất trong thời gian dài.

Bởi vậy, khi xây dựng kế hoạch đầu tư hằng năm, các địa phương phải rà soát nhu cầu từ cơ sở, đối chiếu với quy hoạch sản xuất, vùng nguyên liệu, phương án phát triển du lịch và khả năng kết nối với các tuyến đường hiện có. Các hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua, chế biến nông sản cũng cần tham gia trao đổi, xác định nhu cầu vận tải và khả năng đóng góp đối với những tuyến đường phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh. Sự tham gia của các chủ thể hưởng lợi sẽ giúp mở rộng nguồn lực, đồng thời tăng trách nhiệm khai thác và bảo vệ công trình sau đầu tư.

Cùng với việc ưu tiên kết nối vùng sản xuất, quy mô kỹ thuật của đường giao thông phải phù hợp với nhu cầu vận tải trong hiện tại và tương lai. Theo định hướng của ngành Xây dựng, các tuyến đường xã, trục thôn chủ yếu từng bước được nâng cấp với bề rộng nền đường khoảng 6 m, mặt đường 3,5 m, tạo điều kiện cho ô tô tải vừa và nhỏ lưu thông. Việc nâng cấp cần căn cứ địa hình, lưu lượng phương tiện, khả năng bố trí mặt bằng và nguồn lực thực tế, tránh đầu tư vượt quá nhu cầu hoặc xây dựng những tuyến đường không đáp ứng được yêu cầu khai thác.

Bảo đảm chất lượng, duy trì hiệu quả lâu dài

Ở địa bàn miền núi, xây dựng đường đã khó, bảo vệ công trình trước mưa lũ, sạt lở và địa hình phức tạp còn khó hơn. Một tuyến đường mới nếu thiếu hệ thống thoát nước, không được bảo dưỡng thường xuyên hoặc thi công không đúng yêu cầu kỹ thuật có thể nhanh chóng xuống cấp, làm giảm hiệu quả của nguồn vốn đã đầu tư.

Chất lượng công trình phải được kiểm soát từ khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán đến thi công, nghiệm thu. Đối với từng tuyến đường, phương án kỹ thuật cần tính đến địa hình, nền đất, nguy cơ sạt lở và khả năng thoát nước. Mặt đường bê tông phải bảo đảm mác bê tông, chiều dày thiết kế và thời gian bảo dưỡng; rãnh dọc, cống thoát nước phải được đầu tư đồng bộ. Tiến độ thi công cần gắn với điều kiện thời tiết, không chạy theo số lượng mà bỏ qua yêu cầu kỹ thuật.

Sở Xây dựng cần tiếp tục bố trí lực lượng chuyên môn hướng dẫn các xã trong lập, thẩm định và phê duyệt hồ sơ; kiểm tra chất lượng tại hiện trường, kịp thời xử lý những sai sót. Chính quyền cơ sở, cán bộ kỹ thuật và Ban giám sát đầu tư của cộng đồng phải phát huy vai trò giám sát thường xuyên. Công trình không bảo đảm yêu cầu thì không nghiệm thu, không thanh toán theo quy định.

Bên cạnh đầu tư mới, công tác bảo trì cần được coi là nhiệm vụ thường xuyên. Nghị quyết số 04 của HĐND tỉnh ban hành tháng 5/2026, có hiệu lực từ ngày 1/6/2026, đã quy định mức khoán chi bảo dưỡng thường xuyên đối với đường xã là 15 triệu đồng/km/năm, đường thôn là 5 triệu đồng/km/năm và cầu trên các tuyến đường là 190.000 đồng/m dài/năm. Cơ chế này tạo cơ sở bố trí nguồn lực ổn định hơn cho việc duy tu những công trình vốn trước đây thường gặp khó khăn về kinh phí bảo dưỡng.

Khi có nguồn kinh phí, chính quyền cơ sở phải tổ chức bảo dưỡng định kỳ, khơi thông rãnh và cống trước, trong và sau mùa mưa; xử lý sớm các điểm hư hỏng mặt đường, lề đường; kiểm soát tải trọng phương tiện và chủ động khắc phục những vị trí có nguy cơ mất an toàn. Đối với hư hỏng do thiên tai, cần tổ chức lực lượng tại chỗ khẩn trương bảo đảm giao thông bước đầu, sau đó đánh giá mức độ thiệt hại, xác định nhu cầu kinh phí và triển khai sửa chữa theo thứ tự ưu tiên.

Bảo trì kịp thời giúp hạn chế hư hỏng lan rộng, giảm chi phí sửa chữa lớn và kéo dài thời gian khai thác công trình. Đây cũng là cách bảo vệ trực tiếp nguồn lực mà Nhà nước và Nhân dân đã cùng đóng góp.

Bảo đảm chất lượng công trình từ khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán đến thi công, nghiệm thu
Bảo đảm chất lượng công trình từ khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán đến thi công, nghiệm thu

Tập trung nguồn lực, hoàn thành mục tiêu đến năm 2030

Trong thời gian tới, nhiệm vụ đặt ra là tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 46 của Tỉnh ủy và các nghị quyết liên quan của HĐND tỉnh; đồng thời cụ thể hóa mục tiêu phát triển giao thông nông thôn bằng kế hoạch đầu tư trung hạn, kế hoạch hằng năm và danh mục công trình ưu tiên theo từng địa bàn.

Theo định hướng của tỉnh, đến năm 2030 phấn đấu kiên cố hóa ít nhất 2.500 km đường giao thông nông thôn, nâng tỷ lệ nhựa hóa, bê tông hóa mặt đường giao thông nông thôn tại các xã vượt 80%; nâng cấp ít nhất 350 km đường xã, đường liên xã và xây dựng ít nhất 100 cầu thay thế cầu treo, cầu tạm, ngầm tràn. Đây là những mục tiêu có ý nghĩa trực tiếp đối với việc cải thiện điều kiện đi lại, giảm nguy cơ chia cắt giao thông và mở rộng khả năng kết nối vùng sản xuất.

Để hoàn thành các mục tiêu trên, trước hết phải rà soát toàn diện hiện trạng mạng lưới đường, xác định những tuyến xuống cấp, tuyến còn là đường đất, những vị trí thường xuyên sạt lở và các cầu, ngầm tràn không đáp ứng yêu cầu an toàn. Trên cơ sở đó, xây dựng thứ tự ưu tiên theo mức độ cấp thiết, số hộ dân được hưởng lợi, khả năng kết nối vùng sản xuất và hiệu quả kinh tế - xã hội. Nguồn lực không nên phân tán cho quá nhiều công trình cùng lúc, mà cần tập trung để từng tuyến đường được triển khai đồng bộ và sớm đưa vào khai thác.

Cùng với ngân sách tỉnh, cần chủ động lồng ghép nguồn lực từ ngân sách cấp xã, các chương trình mục tiêu quốc gia và những chương trình, dự án hợp pháp khác; tiếp tục thực hiện cơ chế Nhà nước hỗ trợ, Nhân dân tham gia theo quy định. Việc huy động doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế cùng đóng góp cần dựa trên lợi ích thực tế, bảo đảm công khai, minh bạch và không làm phát sinh nghĩa vụ đóng góp bắt buộc đối với người dân.

Năng lực tổ chức thực hiện ở cấp xã cũng giữ vai trò quan trọng. Cán bộ cơ sở phải được hướng dẫn về quy trình đầu tư, lập hồ sơ, quản lý chất lượng, sử dụng vốn và nghiệm thu công trình. Ngành Xây dựng cần tăng cường hỗ trợ chuyên môn, xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi tiến độ và chất lượng các tuyến đường, kịp thời nhận diện những công trình chậm triển khai hoặc có nguy cơ vượt dự toán. Công tác kiểm tra phải gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích và phát huy hiệu quả.

Đối với phong trào xây dựng giao thông nông thôn, đợt triển khai thứ hai được phát động ngày 23/9/2026, hưởng ứng cao điểm 30 ngày, tiếp tục đặt trọng tâm vào tiến độ, chất lượng và hiệu quả công trình. Các địa phương phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ những công trình đủ điều kiện, tổ chức thi công phù hợp với thời tiết, nghiệm thu và thanh toán theo khối lượng thực tế. Tuy nhiên, tiến độ chỉ có ý nghĩa khi đi cùng chất lượng và khả năng khai thác lâu dài; không để yêu cầu hoàn thành kế hoạch làm ảnh hưởng đến quy trình kỹ thuật và giám sát công trình.

Một yêu cầu xuyên suốt là gắn trách nhiệm của chính quyền với sự tham gia thực chất của Nhân dân. Mỗi tuyến đường phải được bàn bạc từ nhu cầu, thống nhất về phương án, công khai nguồn lực và giám sát trong quá trình thực hiện. Sau khi hoàn thành, cộng đồng dân cư tiếp tục tham gia bảo vệ, giữ gìn vệ sinh, khơi thông hệ thống thoát nước và phát hiện sớm những hư hỏng cần sửa chữa.

Phát triển giao thông nông thôn là nhiệm vụ lâu dài, cần sự phối hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng hành của người dân
Phát triển giao thông nông thôn là nhiệm vụ lâu dài, cần sự phối hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng hành của người dân

Phát triển giao thông nông thôn là nhiệm vụ lâu dài, cần sự phối hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng hành của người dân. Với Lào Cai, mục tiêu không chỉ là tăng tỷ lệ đường được cứng hóa, mà còn là từng bước tháo gỡ điểm nghẽn về kết nối, tạo điều kiện để nông sản đến với thị trường thuận lợi hơn, du lịch cộng đồng có thêm cơ hội phát triển và người dân tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ thiết yếu.

Khi lựa chọn đúng công trình, huy động nguồn lực phù hợp, quản lý chặt chẽ chất lượng và duy trì bảo dưỡng thường xuyên, mỗi tuyến đường sẽ trở thành một phần hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế nông thôn. Sự đồng thuận của Nhân dân, trách nhiệm của chính quyền và cơ chế hỗ trợ sát thực tế sẽ là nền tảng để Lào Cai từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông nông thôn, đưa đường giao thông đi trước, mở lối cho sản xuất và tạo thêm động lực nâng cao đời sống người dân.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Tăng tốc thi công, phấn đấu hoàn thành dự án kè suối Nung trong tháng 12/2026

Tăng tốc thi công, phấn đấu hoàn thành dự án kè suối Nung trong tháng 12/2026

Khởi công từ giữa tháng 9/2026, dự án kè chống sạt lở bờ suối Nung, phường Trung Tâm, có tổng mức đầu tư 45 tỷ đồng đang được khẩn trương triển khai với mục tiêu hoàn thành trong tháng 12/2026. Thời gian thi công ngắn, trong khi mặt bằng chưa đầy đủ và nguy cơ mưa lũ luôn tiềm ẩn, chủ đầu tư là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 1 tỉnh và nhà thầu vừa phối hợp vận động người dân bàn giao đất, vừa tập trung nhân lực, máy móc đào móng, quyết tâm hoàn thành công trình đúng kế hoạch.

Văn Bàn công bố quy hoạch chung đến năm 2035 và gặp mặt doanh nghiệp, nhà đầu tư

Văn Bàn công bố quy hoạch chung đến năm 2035 và gặp mặt doanh nghiệp, nhà đầu tư

Chiều 11/10, UBND xã Văn Bàn tổ chức Hội nghị công bố Quy hoạch chung xã Văn Bàn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch định hướng phát triển đô thị gắn với thương mại, dịch vụ, công nghiệp chế biến và nông nghiệp hàng hóa, đồng thời bố trí hạ tầng kết nối khu trung tâm với các thôn, bản.

[Ảnh] Nhịp sản xuất ở Mỏ đồng Sin Quyền

[Ảnh] Nhịp sản xuất ở Mỏ đồng Sin Quyền

Giữa những tầng khai thác nối tiếp nhau và các dây chuyền tuyển khoáng, nhịp sản xuất tại Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai vẫn được duy trì. Vượt qua khó khăn do điều kiện khai thác phức tạp và biến động thị trường, hơn 1.500 cán bộ, kỹ sư, công nhân đang nỗ lực bảo đảm sản xuất, ổn định việc làm, thu nhập và phấn đấu hoàn thành các mục tiêu năm 2026.

Giữ chặt địa bàn giáp ranh, bảo vệ tài nguyên sông Hồng

Giữ chặt địa bàn giáp ranh, bảo vệ tài nguyên sông Hồng

Trên sông Hồng, cát, sỏi không chỉ là nguồn nguyên liệu phục vụ xây dựng mà còn là tài nguyên cần được quản lý chặt chẽ, khai thác đúng quy định. Tuy nhiên, với địa bàn trải dài qua nhiều xã, phường, công tác kiểm soát sẽ khó đạt hiệu quả nếu mỗi địa phương chỉ quản lý phần sông thuộc địa giới của mình. Từ thực tế đó, xã Quy Mông và các địa phương giáp ranh đang tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin, kiểm tra và xử lý vi phạm, từng bước khép kín những khoảng trống trong quản lý khoáng sản.

Cần quan tâm chỉnh trang hệ thống dây điện, cáp quang trên các tuyến đường phường Yên Bái

Cần quan tâm chỉnh trang hệ thống dây điện, cáp quang trên các tuyến đường phường Yên Bái

Là trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh, phường Yên Bái đã được đầu tư tương đối đồng bộ về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị. Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống điện trung áp, hạ áp và cáp viễn thông tại nhiều tuyến phố vẫn đan xen, chồng chéo, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị và tiềm ẩn những vấn đề về an toàn.

9 mỏ cát, sỏi trên sông Hồng hoạt động trở lại

9 mỏ cát, sỏi trên sông Hồng hoạt động trở lại

Sau thời gian tạm dừng để rà soát, khắc phục tồn tại hạn chế, 9 mỏ khai thác cát, sỏi trên sông Hồng thuộc địa bàn tỉnh Lào Cai đã được phép hoạt động trở lại sau khi hoàn thiện hồ sơ, thủ tục và đáp ứng yêu cầu về quản lý khoáng sản.

Điện đã sáng, tiền đền bù vẫn chờ ở Trạm Tấu

Điện đã sáng, tiền đền bù vẫn chờ ở Trạm Tấu

Những cột điện bê tông nối nhau vượt núi cao, nương rẫy, khe sâu, đưa điện lưới quốc gia về các bản vùng cao Trạm Tấu. Hơn một năm qua, ánh điện đã hiện diện trong những nếp nhà, phục vụ sinh hoạt, sản xuất của hàng trăm hộ dân. Tuy nhiên, với 138 hộ có đất bị ảnh hưởng bởi dự án, niềm vui ấy vẫn chưa trọn vẹn.

Tăng tốc thi công các công trình giao thông

Tăng tốc thi công các công trình giao thông

Hàng loạt dự án giao thông trọng điểm tại Lào Cai đang được tăng tốc thi công, từng bước hoàn thiện mạng lưới kết nối với cao tốc, quốc lộ, cửa khẩu, đô thị và các vùng du lịch, khu công nghiệp. Trong giai đoạn nước rút, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng sẽ quyết định khả năng về đích của các công trình, phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư.

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai sau một năm thi công

Sau một năm kể từ ngày khởi công (1/10/2025), Dự án mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn Yên Bái - Lào Cai đang bước vào giai đoạn thi công nước rút. Nhiều hạng mục quan trọng đã cơ bản hoàn thành, hình hài tuyến cao tốc 4 làn xe dài hơn 121 km đang dần hiện rõ trên công trường.

fb yt zl tw