Tăng sức cạnh tranh cho ô-tô sản xuất trong nước

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã đồng ý với đề xuất của Bộ Tài chính giảm mức thu lệ phí trước bạ đối với ô-tô sản xuất, lắp ráp trong nước bằng 50% mức thu hiện hành, và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12.

Ðây là một trong chuỗi hàng loạt giải pháp Chính phủ liên tục ban hành trong các năm gần đây nhằm khuyến khích ngành sản xuất ô-tô trong nước cũng như hạn chế xe nhập khẩu. Tuy nhiên, hiệu quả đem lại chưa như mong đợi khi lượng ô-tô nhập khẩu tiếp tục tăng cao.

Tăng sức cạnh tranh cho ô-tô sản xuất trong nước ảnh 1
Sản xuất, lắp ráp xe ô-tô tại Tổ hợp Vinfast (Khu công nghiệp Ðình Vũ-Cát Hải, TP Hải Phòng).

Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9 vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu gần 8.700 ô-tô nguyên chiếc các loại, tương đương giá trị khoảng 197 triệu USD. So với tháng 8, lượng xe nhập giảm 15% về lượng và 13% về giá trị. Tuy nhiên, lũy kế trong chín tháng, lượng xe nhập khẩu về Việt Nam vẫn tăng cao, đạt 114.377 chiếc, tăng 71,5% so cùng kỳ năm 2020; riêng ô-tô con (chín chỗ trở xuống) số lượng nhập lên hơn 78 nghìn chiếc, tăng 57,8%. Theo dự báo của các chuyên gia trong ngành, lượng ô-tô nhập khẩu sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Xe nhập khẩu vẫn chiếm vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh doanh của các hãng xe.

Ngành công nghiệp ô-tô của một quốc gia sẽ kém phát triển nếu công nghiệp hỗ trợ đi kèm không đáp ứng kịp yêu cầu. Trong khi đó, công nghiệp hỗ trợ ngành ô-tô của Việt Nam những năm gần đây dù có bước tiến nhất định, nhưng còn kém so các nước trong khu vực và bộc lộ không ít hạn chế. Cụ thể, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ô-tô đang phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng. Do máy móc, công nghệ tương đối lạc hậu, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam đạt thấp, giá lại cao, còn khoảng cách khá xa so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài. Tốc độ cập nhật công nghệ của các doanh nghiệp cũng rất chậm, vì vậy hiện chỉ một vài nhà cung cấp trong nước đủ sức tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô-tô. So với Thái Lan, số lượng nhà cung cấp của Việt Nam trong ngành công nghiệp ô-tô thua kém nhiều khi nước này có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, nhưng chúng ta chỉ có chưa đến 100; Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2 hoặc 3 trong khi Việt Nam có chưa đến 150.

Mặt khác, tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân dưới chín chỗ ngồi còn rất thấp: Mục tiêu đề ra vào năm 2020 đạt từ 30% đến 40%, năm 2025 lên từ 40% đến 45% và năm 2030 đạt từ 50% đến 55%, nhưng đến nay mới đạt bình quân khoảng từ 7 đến 10%. Phụ tùng linh kiện ô-tô hiện đang sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là các phụ tùng thâm dụng lao động, công nghệ giản đơn như ghế ngồi, kính, săm lốp, bánh xe,… Ðể phục vụ lắp ráp ô-tô, các hãng xe trong nước phải nhập khẩu hầu hết các nhóm sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, nhất là các bộ phận, linh kiện quan trọng thuộc hệ thống phanh, ly hợp, hộp số, hệ thống lái,… khiến chi phí sản xuất thiếu cạnh tranh. Ðây chính là lý do khiến các hãng xe ít mặn mà với việc lắp ráp, chuyển sang nhập khẩu xe nguyên chiếc. Ðại diện hãng Toyota cho biết: Dòng xe Corolla Cross là mẫu bán chạy nhất của hãng trong tháng 9 vừa qua hiện đang được nhập khẩu từ Thái Lan với giá từ 720 triệu đồng, nhưng nếu chuyển sang lắp ráp trong nước chắc chắn giá cao hơn nhiều.

Tăng sức cạnh tranh cho ô-tô sản xuất trong nước ảnh 2
Nhà máy sản xuất ô-tô Thaco Mazda của Công ty cổ phần Ô-tô Trường Hải (THACO) tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam. Ảnh: VỸ PHONG

Kinh nghiệm từ các nước

Theo các chuyên gia, công nghiệp hỗ trợ ngành ô-tô phát triển sẽ có tác động tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm giá thành sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm ô-tô lắp ráp hoàn chỉnh trong nước. Mặt khác, không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ô-tô, công nghiệp hỗ trợ còn tạo ra hiệu ứng kéo theo các ngành công nghiệp khác cùng phát triển như luyện kim, nhựa, cao-su, dệt may, điện-điện tử,... góp phần giải quyết việc làm, tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế, kích thích tiêu dùng trong nước, mở rộng quy mô thị trường của các ngành công nghiệp này.

Từ kinh nghiệm xây dựng và thực thi chính sách của một số quốc gia trên thế giới, các chuyên gia kiến nghị cần xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành ô-tô tổng thể với lộ trình và bước đi thích hợp. Sự thành công của nền công nghiệp ô-tô Thái Lan cũng bắt đầu bằng việc xây dựng được một chiến lược tổng thể và tập trung nguồn lực phát triển cho công nghiệp hỗ trợ. Việc tạo dựng được một mạng lưới công nghiệp hỗ trợ vững mạnh, trình độ công nghệ cao đã tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp ô-tô Thái Lan. Bên cạnh đó, cần nhất quán phát triển công nghiệp hỗ trợ dựa trên nền tảng hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy đầu tư liên kết, liên doanh để học hỏi công nghệ và nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp. Cộng thêm việc khuyến khích vai trò đầu tàu của hãng xe lớn được chọn trong thiết lập các vùng (cụm) công nghiệp, từ đó hội tụ các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhằm hình thành mạng sản xuất và vùng cung ứng. Ðây là giải pháp Trung Quốc đã triển khai rất thành công. Quốc gia này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào công nghiệp hỗ trợ ô-tô trong mạng sản xuất địa phương. Bên cạnh việc thu hút các hãng xe nước ngoài đầu tư, Trung Quốc cũng ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào sản xuất linh kiện, phụ tùng ô-tô và cơ khí. Những chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ tín dụng và nhiều biện pháp khuyến khích các hãng nước ngoài sử dụng các linh kiện sản xuất trong nước đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ ngành ô-tô. Chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích các liên doanh sản xuất thương hiệu ô-tô trong nước, nhờ đó góp phần tạo nên sự gắn kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, trong đó các doanh nghiệp lớn đóng vai trò trung tâm thu hút liên kết và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ.

Các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần thực hiện tốt vai trò hỗ trợ phát triển. Theo đó, để tháo gỡ vướng mắc về chênh lệch chi phí sản xuất giữa ô-tô trong nước và ô-tô nhập khẩu, cần tiếp tục duy trì và triển khai có hiệu quả các chương trình ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng cho hoạt động sản xuất, lắp ráp ô-tô. Ðồng thời, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định khuyến khích doanh nghiệp nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm cũng như giá trị gia tăng tạo ra trong nước

Báo Nhân dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Nông dân tất bật vào mùa thu hoạch quế

Nông dân tất bật vào mùa thu hoạch quế

Là vùng nguyên liệu quế lớn nhất cả nước, những ngày này, người dân ở các vùng trọng điểm quế của Lào Cai đang tất bật vào mùa thu hoạch vỏ quế để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, cơ sở sản xuất đồ gỗ, tinh dầu... phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Tăng cường quản lý buôn bán thuốc bảo vệ thực vật

Tăng cường quản lý buôn bán thuốc bảo vệ thực vật

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, lực lượng quản lý thị trường trên địa bàn đã và đang đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm lập lại trật tự trong lĩnh vực kinh doanh mặt hàng có điều kiện này, đồng thời bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hướng tới nền nông nghiệp an toàn, bền vững.

Cây đàn hương - Hướng làm giàu mới cho người dân vùng hồ Thác Bà

Cây đàn hương - Hướng làm giàu mới cho người dân vùng hồ Thác Bà

Dù còn khá mới mẻ, song cây đàn hương đang dần khẳng định tiềm năng và giá trị kinh tế tại một số địa phương. Tại thôn Làng Lạnh, xã Cảm Nhân, mô hình trồng đàn hương do Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Thành Lâm triển khai đã và đang mở ra hướng phát triển sản xuất mới. Không chỉ mang lại hiệu quả bước đầu, mô hình còn cho thấy sự mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm của người dân vùng ven hồ Thác Bà trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Chuyển đổi cây trồng, nâng cao giá trị nông nghiệp

Chuyển đổi cây trồng, nâng cao giá trị nông nghiệp

Những năm qua, tỉnh Lào Cai đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa những loại cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, thay thế dần diện tích cây trồng kém hiệu quả. Từ chủ trương đúng đắn và sự vào cuộc đồng bộ của các địa phương, nhiều mô hình đã cho thu nhập cao gấp 2-3 lần, mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp vùng cao.

Hiện thực hoá Quyết định 13: Khơi dòng vốn hỗ trợ nông dân

Hiện thực hoá Quyết định 13: Khơi dòng vốn hỗ trợ nông dân

Nghị quyết số 21/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh Lào Cai được ban hành với kỳ vọng tạo bước ngoặt chiến lược cho nông nghiệp hàng hóa. Tuy nhiên, để những con số trên văn bản thực sự biến chuyển thành cây giống, vật tư và chuồng trại tại các bản làng, Quyết định số 13/2026/QĐ-UBND chính là “chìa khóa” then chốt cụ thể hóa quy trình thực hiện.

Đổi thay ở Khe Loóng

Đổi thay ở Khe Loóng

Từ một thôn có trên 70% hộ nghèo, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, đến nay thôn Khe Loóng, xã Trấn Yên đã vươn lên trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế của địa phương. Những đổi thay rõ nét ấy bắt nguồn từ việc người dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi tư duy trong phát triển sản xuất.

Trải nghiệm "nông trại bốn mùa": Nông sản trở thành sản phẩm du lịch hút khách

Trải nghiệm "nông trại bốn mùa": Nông sản trở thành sản phẩm du lịch hút khách

Vượt ra khỏi khuôn khổ sản xuất nông nghiệp thuần túy, mô hình “nông trại bốn mùa” tại tổ dân phố 21, phường Trung Tâm đang mở ra không gian trải nghiệm mới. Tại đây, du khách có thể trực tiếp thu hoạch và thưởng thức mận đầu vụ ngay tại vườn, tạo điểm nhấn hấp dẫn cho du lịch địa phương dịp lễ 30/4 - 01/5.

Phát triển mô hình trồng rau hữu cơ vì sức khỏe cộng đồng

Phát triển mô hình trồng rau hữu cơ vì sức khỏe cộng đồng

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng bữa ăn và sức khỏe, lựa chọn thực phẩm sạch, an toàn đang trở thành ưu tiên hàng đầu. Tại tỉnh Lào Cai, các mô hình trồng rau hữu cơ đang dần khẳng định hiệu quả, mang lại thu nhập ổn định cho người dân, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

Làm giàu từ mô hình kinh tế tổng hợp ở Lương Thịnh

Làm giàu từ mô hình kinh tế tổng hợp ở Lương Thịnh

Những ngày trung tuần tháng 4, trở lại xã Lương Thịnh, diện mạo nông thôn nơi đây đã có nhiều thay đổi. Những triền đồi phủ xanh quế, tre Bát độ, xen lẫn là các khu chuồng trại, ao nuôi được đầu tư bài bản. Từ sản xuất nhỏ, manh mún, người dân nơi đây đang từng bước chuyển sang phát triển các mô hình kinh tế tổng hợp, mang lại hiệu quả rõ rệt.

Cuộc sống mới ở Hoàng Hạ

Cuộc sống mới ở Hoàng Hạ

Trở lại Hoàng Hạ, chúng tôi không khỏi bất ngờ trước sự đổi thay rõ nét. Những triền đồi xám bạc ngày nào giờ phủ kín màu xanh của cây ăn quả. Những vườn lê nối nhau trải dài, báo hiệu một hướng đi mới cho bản Mông nơi non cao. Giữa biển mây bồng bềnh, một cuộc sống mới đã bắt đầu.

Khai mạc chợ đêm Si Ma Cai

Khai mạc chợ đêm Si Ma Cai

Tối 25/4, tại chợ Xanh Si Ma Cai, lễ khai mạc chợ đêm Si Ma Cai diễn ra trong không khí sôi động, thu hút đông đảo Nhân dân và du khách đến tham quan, trải nghiệm.

Xây dựng thương hiệu từ sự đồng lòng

Xây dựng thương hiệu từ sự đồng lòng

Giữa "lòng chảo" Mường Lò, hạt gạo Séng Cù của tổ dân phố An Sơn (phường Cầu Thia) không chỉ nuôi sống bao thế hệ mà còn trở thành biểu tượng gắn kết cộng đồng. Từ những thửa ruộng vàng óng, bà con đã cùng nhau xây dựng Hợp tác xã, tạo nên thương hiệu gạo Séng Cù đạt chuẩn OCOP 3 sao - mang hương vị đất trời và khát vọng vươn xa.

Giải bài toán cho lối đi tự mở qua đường sắt ở Trấn Yên

Giải bài toán cho lối đi tự mở qua đường sắt ở Trấn Yên

Là địa phương có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, từ lâu câu chuyện về lối đi tự mở ở thôn Nhân Nghĩa, xã Trấn Yên, tỉnh Lào Cai vẫn chưa có lời giải dứt điểm, đặt ra bài toán vừa bảo đảm an toàn giao thông, vừa không để ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội. 

"Vàng xanh" trên đất Mỏ Vàng

"Vàng xanh" trên đất Mỏ Vàng

Suối Dầm, xã Mỏ Vàng cheo leo giữa núi cao, nơi mây phủ quanh năm và cuộc sống của đồng bào Mông vẫn còn nhiều khó khăn, nhọc nhằn. Ở đó, những cây chè Shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi lặng lẽ tồn tại như chứng nhân của thời gian. Không theo hàng lối như những nương chè hiện đại mà mọc rải rác trên sườn núi, sau nếp nhà, ven rừng như thể được thiên nhiên gìn giữ qua bao thế hệ.

fb yt zl tw