Tăng cưòng hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh

LCĐT - UBND tỉnh vừa ban hành Chỉ thị số 13/CT-UBND về Tăng cường hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Ứng dụng khoa học công nghệ vào chế biến sản phẩm nông nghiệp đang được các địa phương quan tâm thực hiện.
Ứng dụng khoa học công nghệ vào chế biến sản phẩm nông nghiệp đang được các địa phương quan tâm thực hiện.

Chỉ thị nêu rõ, trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh Lào Cai đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ ở một số ngành, địa phương chưa được quan tâm đúng mức; tiềm lực khoa học và công nghệ còn hạn chế; việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong một số cơ quan hành chính còn mang tính hình thức; hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chưa rõ nét; hoạt động nghiên cứu - ứng dụng chưa đều khắp trên các lĩnh vực…

Nhằm tăng cường hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, đơn vị, địa phương thực hiện một số nội dung, nhiệm vụ chủ yếu sau:

1. Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì đề xuất các giải pháp phát triển, nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; huy động mạnh mẽ, hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó tập trung cho công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới...

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu bố trí ngân sách thực hiện các dự án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025; tham mưu bố trí kinh phí từ nguồn sự nghiệp kinh tế hàng năm để đầu tư nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ.

UBND các huyện, thị xã, thành phố bố trí công chức làm nhiệm vụ về khoa học và công nghệ theo quy định.

2.Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì:

Hướng dẫn các cơ sở, doanh nghiệp, hợp tác xã áp dụng và công bố hợp quy sản phẩm hàng hóa. Cung cấp thông tin thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại đến các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã phục vụ hoạt động xuất khẩu đảm bảo đúng thời gian quy định;

Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Liên minh hợp tác xã tỉnh đẩy mạnh công tác hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở; đăng ký mã số mã vạch; áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến; nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng 100% nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghiên cứu áp dụng ISO điện tử trong đánh giá, chấm điểm công tác xây dựng, áp dụng ISO.

Phối hợp với sở Công thương, Công an tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Quản lý thị trường tỉnh và Cục Hải quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đặc biệt trong kinh doanh xăng dầu, ga, sản phẩm điện, điện tử, vàng trang sức, mỹ nghệ, đồ uống có cồn, thực phẩm đóng gói, thực phẩm chức năng, dược phẩm, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; phối hợp với sở, ngành liên quan quản lý chặt chẽ, đảm bảo kiểm định 100% đồng hồ đo nước tại các đơn vị kinh doanh nước sạch; kiểm định 100% đồng hồ xe taxi của các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Phối hợp với Công an tỉnh quản lý tốt việc sử dụng phương tiện đo trong ngành, đảm bảo kiểm định, hiệu chuẩn 100% các phương tiện đo dùng trong hoạt động nghiệp vụ.

Sở Nội vụ chủ trì, tham mưu đẩy mạnh công tác kiểm tra cải cách hành chính và thực thi nhiệm vụ, công vụ; triển khai chấm điểm chỉ số cải cách hành chính của các sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác áp dụng, duy trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia của các cơ quan hành chính nhà nước.

UBND các huyện, thị xã, thành phố phối hợp chặt chẽ với Sở Khoa học và Công nghệ, cơ quan chức năng ngăn chặn việc lưu thông hàng giả, hàng kém chất lượng trên thị trường. Chủ trì thực hiện kiểm tra về đo lường chất lượng tại các chợ, trung tâm thương mại, điểm bán buôn, bán lẻ trên địa bàn, đảm bảo 100% phương tiện đo nhóm 2 sử dụng trong buôn bán được kiếm soát về đo lường.

3. Đẩy mạnh hoạt động sở hữu trí tuệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các sở, ngành, địa phương tham mưu thực hiện tốt Quyết định số 2205/QĐ-TTg ngày 24/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030. Hỗ trợ địa phương công tác bảo hộ các sản phẩm đặc sản, đặc trưng, tiềm năng; chú trọng hỗ trợ nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động quản lý, phát triển các nhãn hiệu tập thể của các hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm. Phấn đấu trong giai đoạn 2021 - 2025 toàn tỉnh có thêm ít nhất 1 chỉ dẫn địa lý; 9 nhãn hiệu chứng nhận; 3 nhãn hiệu tập thể; 8 nhãn hiệu sản phẩm được hỗ trợ khai thác phát triển và thương mại hóa; số đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tăng 15%/năm; phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hỗ trợ các tố chức, cá nhân bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan đến tác giả; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bảo hộ giống vật nuôi, cây trồng mới, xây dựng hồ sơ, đăng ký và quản lý mã số vùng trồng; thiết lập và áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp, hệ thống quản lý an toàn thực phẩm cho các sản phẩm được bảo hộ; hỗ trợ hợp tác, quảng bá, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ theo chuỗi giá trị; phối hợp với Công an tỉnh, Sở Công thương, Cục Quản lý thị trường tỉnh, các sở chuyên ngành tăng cường kiểm soát và xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền.

Các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo hội đồng sáng kiến cấp cơ sở hàng năm tổ chức lựa chọn và xét duyệt các sáng kiến đáp ứng đủ tiêu chí theo quy định và có phạm vi ảnh hưởng cấp tỉnh đế trình Hội đồng Sáng kiến cấp tỉnh xét duyệt, công nhận.

UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn, các chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý đã được tỉnh giao; tích cực khai thác, phát triển các nhãn hiệu sản phẩm đã được bảo hộ; phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ chỉ đạo, hướng dẫn chủ sở hữu nhãn hiệu nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và phát triển nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý.

Thủ trưởng các đơn vị; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố quan tâm tăng cường chỉ đạo hoạt động sáng kiến, đẩy mạnh phong trào cải tiến kỹ thuật trong đơn vị, đặc biệt là các đơn vị kinh doanh, sản xuất, dịch vụ du lịch. Hàng năm, nhân rộng các sáng kiến đã được đánh giá, công nhận áp dụng có hiệu quả và có phạm vi ảnh hưởng cấp tỉnh; phấn đấu lựa chọn ít nhất từ 2 đến 3 sáng kiến để nhân rộng trên địa bàn mỗi huyện, thị xã, thành phố. Các đơn vị trực thuộc Tỉnh ủy; các cơ quan quản lý nhà nước; đơn vị trực thuộc UBND tỉnh tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh để nhân rộng các sáng kiến trên địa bàn toàn tỉnh.

4.Tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, mã số, mã vạch và nhãn hàng hóa

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì hỗ trợ tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng hiệu quả Cổng thông tin điện tử truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Hướng dẫn các quy định về nhãn hàng hóa cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã triển khai áp dụng và phổ biến các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật về hệ thống truy xuất nguồn gốc. Tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký mã số, mã vạch, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân triển khai xây dựng, áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc, quản lý và xử lý vi phạm theo thẩm quyền. Khuyến khích tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký chứng nhận xuất xứ hàng hóa, tập trung sản phẩm chủ lực.

Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì xem xét, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực truy xuất sản phẩm, hàng hóa. Đề nghị các cơ quan báo chí tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức về truy xuất nguồn gốc sản phấm, đảm bảo thiết thực, hiệu quả.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Sở Y tế, UBND các huyện, thị xã, thành phố xác định, đề xuất danh mục sản phẩm, hàng hóa chủ lực, đặc trưng, tiềm năng, sản phẩm OCOP để triển khai truy xuất nguồn gốc gắn theo chuỗi giá trị. Hàng năm, xác định, đề xuất danh mục sản phẩm, hàng hóa bắt buộc áp dụng truy xuất nguồn gốc và lộ trình phù hợp; quản lý và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

Liên minh Hợp tác xã, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tăng cường phổ biến, vận động, hỗ trợ doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác và liên hiệp HTX ứng dụng truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

5.Phát triền thị trường công nghệ, hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, tham mưu thực hiện tốt Kế hoạch hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ thị trường khoa học và công nghệ; dịch vụ thông tin thị trường khoa học và công nghệ; hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ, ươm tạo công nghệ. Phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư đổi mới và nâng cao chất lượng công tác thẩm định công nghệ dự án đầu tư, chuyển giao công nghệ, ngăn ngừa công nghệ gây mất an toàn, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người. Tăng cường phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện tốt Kế hoạch về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh Lào Cai. Phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 5 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hình thành 2 cơ sở ươm tạo công nghệ.

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng tuyên truyên về quản lý công nghệ và thị trường công nghệ; hướng dẫn quản lý hoạt động chuyển giao công nghệ trên địa bàn tỉnh, thực hiện khảo sát, thu thập thông tin về trình độ công nghệ thiết bị trên địa bàn tỉnh theo quy định; xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp và hợp tác xã.

6.Tăng cường hoạt động ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ

Giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các viện nghiên cứu, sở, ngành, địa phương tăng cường giới thiệu các công nghệ mới đến các doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân. Hằng năm, tổng hợp kết quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu để tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo ứng dụng, nhân rộng.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin trong chọn tạo, nhân giống, áp dụng quy trình sản xuất, bảo quản, chế biến nông, lâm sản, đặc biệt là các sản phẩm có thế mạnh của tỉnh. Phục tráng, bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen các giống cây trồng, vật nuôi quý hiếm, đặc sản có giá trị của địa phương.

Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý rác thải ở khu vực nông thôn.

Sở Y tế chủ trì tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động quản lý, khám, chữa bệnh, xây dựng bệnh viện thông minh.

Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục, giảng dạy và học tập.

Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử. Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trên nền tảng 5G, tập trung vào lĩnh vực bưu chính điện tử, kinh tế số, chính quyền số, trí tuệ nhân tạo, camera thông minh,... Phối hợp chặt chẽ với UBND thành phố xây dựng thành công mô hình đô thị thông minh, tạo bước đột phá trong thay đổi phương thức quản lý, chỉ đạo, điều hành của chính quyền đô thị.

Sở Giao thông vận tải - Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, các địa phương và doanh nghiệp đấy mạnh ứng dụng công nghệ vật liệu mới, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, thân thiện với môi trường trong các lĩnh vực sản xuất và đời sống.

7.Tăng cường hoạt động bảo đảm an toàn bức xạ, hạt nhân

Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Cục Hải quan tỉnh, Sở Y tế và ƯBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan có liên quan tăng cường hoạt động quản lý nhà nước trong việc xuất nhập khẩu, lưu giữ, sử dụng thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ và thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế; triển khai nhiệm vụ ứng phó sự cố an toàn bức xạ, hạt nhân cấp tỉnh, tham mưu UBND tỉnh phối hợp thực hiện nhiệm vụ ứng phó sự cố an toàn bức xạ, hạt nhân cấp quốc gia; quản lý chặt chẽ các nguồn phóng xạ hiện có trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Sở Y tế chỉ đạo các đơn vị y tế thực hiện nghiêm túc việc khai báo, cấp phép, bảo đảm an toàn bức xạ đối với thiết bị X-quang, các nguồn phóng xạ trong chẩn đoán, khám chữa bệnh; bảo đảm thực hiện đúng quy định an toàn về môi trường đối với cơ sở khám chữa bệnh y học hạt nhân có chất thải phóng xạ.

Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương và UBND các huyện, thị xã, thành phố quản lý chặt chẽ các mỏ có chứa các nguyên tố phóng xạ; bảo đảm công tác khảo sát, điều tra, khai thác, sử dụng đúng quy định của pháp luật.

8. Đẩy mạnh công tác thông tin, thống kê, tuyên truyền về khoa học và công nghệ

Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp chặt chẽ với sở Thông tin và Truyền thông, các ngành, địa phương tuyên truyền, phổ biến thành tựu tri thức khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp với Cục Thống kê tỉnh triển khai hiệu quả hoạt động thống kê khoa học và công nghệ.

Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Lào Cai, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, các sở, ngành, địa phương đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao kiến thức về pháp luật khoa học và công nghệ; lan tỏa những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ nổi bật; công khai những tổ chức, cá nhân có vi phạm, đồng thời quan tâm biếu dương các tổ chức, cá nhân điển hình.

9.Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cấp cơ sở

Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ cho các sở, ban, ngành, huyện, thị xã quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Hướng dẫn thành lập, kiện toàn và đấy mạnh hoạt động của Hội đồng khoa học và công nghệ cấp cơ sở, hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ hàng năm.

Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo Hội đồng khoa học và công nghệ cấp cơ sở để tham mưu, tư vấn cho thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong hoạt động khoa học và công nghệ về phương hướng, nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ; các biện pháp thúc đẩy việc ứng dụng, nhân rộng tiến bộ khoa học và công nghệ trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý; lựa chọn vấn đề khoa học và công nghệ có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, ngành, địa phương để đề xuất đặt hàng nghiên cứu, ứng dụng (thông qua Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan thường trực của Hội đồng Tư vấn khoa học và công nghệ tỉnh). Các sở, ban, ngành căn cứ chức năng nhiệm vụ phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ chuyên ngành, hoặc giải quyết các vấn đề cấp bách về khoa học và công nghệ mang tính liên ngành thuộc phạm vi quản lý của mình, báo cáo kết quả về UBND tỉnh (qua Sở Khoa học và Công nghệ). Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ triển khai thực hiện các hoạt động, dịch vụ khoa học và công nghệ theo đúng quy định (tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện kỹ thuật, chuyên giao công nghệ, kiểm nghiệm,...) phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quản lý.

10.Tổ chức thực hiện

Giám đốc các sở, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị; chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố; các doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền và nhiệm vụ được giao xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện; báo cáo kết quả gửi về Sở Khoa học và Công nghệ trước ngày 15/12 hàng năm. Giao Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Chỉ thị, định kỳ trước ngày 31/12 hàng năm báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định.

Đ nghị các tổ chức chính trị - xã hội, t chức xã hộingh nghiệp chủ động, tích cực phối hợp với chính quyền t chức tốt hoạt động khoa học và công nghệ nhm phát huy hiệu quả trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đinh Thị Phương Nhung và những sáng kiến thu hẹp khoảng cách số

Đinh Thị Phương Nhung và những sáng kiến thu hẹp khoảng cách số

Trao đổi qua điện thoại, chị Đinh Thị Phương Nhung khá khiêm tốn khi nhắc đến những thành tích mà mình đã đạt được. Nhưng khi nói đến chủ đề chuyển đổi số, chị Phương Nhung lại chia sẻ công việc và những dự định của mình với tất cả niềm đam mê. Với chị Nhung, góp sức đưa cái mới về với bản làng là trách nhiệm của những người trẻ tuổi.

Khi phụ nữ vùng cao hội nhập

Khi phụ nữ vùng cao hội nhập

Ở những bản làng vùng cao Lào Cai, nhiều phụ nữ từng gặp khó khăn khi tiếp cận công nghệ và thông tin. Nay, nhờ các cán bộ nữ “đi từng ngõ, gõ từng nhà” hướng dẫn sử dụng smartphone và dịch vụ công trực tuyến, công nghệ số đang trở thành đòn bẩy, mở ra cơ hội học tập, lao động và thay đổi cuộc sống cho chị em đồng bào dân tộc thiểu số.

“Chìa khóa” mở cửa kỷ nguyên số

“Chìa khóa” mở cửa kỷ nguyên số

Không đơn thuần là ứng dụng lưu trữ giấy tờ điện tử, VNeID đã trở thành “hệ sinh thái số” đa tiện ích. Với hàng loạt tính năng mới được cập nhật, VNeID không chỉ giúp người dân thoát khỏi cảnh “tay xách nách mang” nhiều giấy tờ mà còn trực tiếp giải quyết những “điểm nghẽn” hành chính bấy lâu nay, mở ra phương thức giao dịch hiện đại, minh bạch và an toàn.

Tuổi trẻ xã Văn Bàn năng động chuyển đổi số, nâng cao thu nhập

Tuổi trẻ xã Văn Bàn năng động chuyển đổi số, nâng cao thu nhập

Là xã vùng cao của tỉnh, Văn Bàn từng phải đối mặt với tình trạng nhiều thanh niên rời quê đi làm thuê ở xa do không có việc làm. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, trên địa bàn xã ngày càng có nhiều mô hình thanh niên khởi nghiệp thành công nhờ ứng dụng hiệu quả các nền tảng số, đem lại nguồn thu nhập ổn định và tạo việc làm cho lao động nông thôn.

Không gian mạng an toàn - Điều kiện tiên quyết cho chuyển đổi số

Không gian mạng an toàn - Điều kiện tiên quyết cho chuyển đổi số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế số, xã hội số. Tại Lào Cai, thời gian qua đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi an ninh mạng được giữ vững, tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số trên địa bàn.

Vì sự hài lòng của Nhân dân

Vì sự hài lòng của Nhân dân

Hưởng ứng mạnh mẽ công cuộc chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Lào Cai đã thể hiện rõ quyết tâm nhanh chóng xây dựng chính quyền điện tử, tất cả nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Phát thanh trực tiếp 2026: Tìm lời giải chinh phục công chúng trong kỷ nguyên mới

Phát thanh trực tiếp 2026: Tìm lời giải chinh phục công chúng trong kỷ nguyên mới

Hội thảo phát thanh trực tiếp năm 2026 thu hút hơn 500 đại biểu, tập trung bàn giải pháp nâng cao chất lượng chương trình trong bối cảnh cạnh tranh truyền thông số. Nhiều kinh nghiệm, kỹ năng nhằm thu hút và giữ chân công chúng, cũng như phát huy vai trò của phát thanh trực tiếp trong thời đại mới đã được chia sẻ.

Lào Cai ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi

Lào Cai ứng dụng chuyển đổi số trong chăn nuôi

Chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực, định hình lại diện mạo các ngành kinh tế. Đối với tỉnh Lào Cai, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp, đặc biệt là ngành chăn nuôi, được xác định là động lực trung tâm để hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững và hiện đại.

Lào Cai không để hồ sơ trễ hạn trong lĩnh vực đất đai

Lào Cai không để hồ sơ trễ hạn trong lĩnh vực đất đai

Cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, vốn được xem là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm luôn là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tại Lào Cai, với nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và hướng đến thực chất, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang nỗ lực kiểm soát tiến độ, giảm tối đa hồ sơ trễ hạn, từng bước xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch.

Hiệu quả từ số hóa hồ sơ, giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính

Hiệu quả từ số hóa hồ sơ, giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính

Trong tiến trình cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, việc số hóa hồ sơ, giấy tờ đang trở thành một trong những giải pháp trọng tâm, mang lại những chuyển biến rõ nét trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như trải nghiệm của người dân. Quá trình số hóa hồ sơ trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho thấy hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân.

"Dòng họ số" trên đỉnh Suối Giàng

"Dòng họ số" trên đỉnh Suối Giàng

Từ những thao tác còn bỡ ngỡ ban đầu, đến nay, mỗi gia đình trong dòng họ Giàng ở Suối Giàng (xã Văn Chấn) không chỉ làm quen với công nghệ mà đã trở thành những “công dân số” thực thụ. Sự thay đổi ấy đang mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào nơi đây.

Di sản và tri thức trong hành trình số hóa nâng cao

Di sản và tri thức trong hành trình số hóa nâng cao

Sau giai đoạn đẩy mạnh số hóa dữ liệu, các thiết chế văn hóa, đặc biệt là bảo tàng và thư viện tỉnh đang bước sang giai đoạn chuyển đổi số nâng cao. Không gian trưng bày, tra cứu và trải nghiệm được mở rộng trên môi trường số, giúp di sản và tri thức đến với công chúng nhanh hơn, gần hơn và phù hợp với xu hướng tiếp cận hiện đại.

Tăng "lá chắn số" cho phụ nữ, trẻ em vùng cao

Tăng "lá chắn số" cho phụ nữ, trẻ em vùng cao

An toàn thông tin mạng đang trở thành vấn đề sát sườn với đời sống của phụ nữ, trẻ em và người dân vùng cao. Từ những buổi tập huấn cụ thể, kiến thức pháp luật đang được “đưa tận tay” người dân, giúp họ chủ động bảo vệ mình trước các rủi ro trên không gian mạng.

fb yt zl tw