Sớm xóa bỏ chênh lệch cao giữa giá vàng trong nước với thế giới

Để ổn định thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua đã chuẩn bị sẵn sàng các phương án can thiệp. Đáng chú ý, đối với thị trường vàng miếng, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ khẩn trương thực hiện tăng cung để xử lý tình trạng chênh lệch cao giữa giá trong nước so với giá thế giới.

1.jpg
Khách hàng giao dịch mua bán vàng.

Đến ngày 16/4, thị trường tiếp tục chứng kiến diễn biến tăng nóng của cả giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC, theo đó, giá bán vàng miếng SJC phổ biến neo quanh mốc 84 triệu đồng/lượng. Tỷ giá USD ngân hàng cũng liên tục phá kỷ lục.

Trong khi đó, thông tin Ngân hàng Nhà nước đấu thầu vàng miếng trở lại thu hút được sự chú ý của dư luận và được kỳ vọng sẽ dần kéo giảm chênh lệch giá vàng trong nước với thế giới.

Nhìn nhận về việc Ngân hàng Nhà nước đấu thầu vàng trở lại, Tiến sĩ Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho biết, câu chuyện đấu thầu vàng đã triển khai cách đây 11 năm.

Theo đó, năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức 76 phiên đấu thầu vàng.

“Lần này, Ngân hàng Nhà nước cho vận hành hoạt động nghiệp vụ này trở lại để cơ bản tăng tính công khai minh bạch, tăng nguồn cung vàng qua đó góp phần giảm chênh lệch giá vàng trong nước với thế giới, giá vàng thương hiệu SJC với giá vàng trên thế giới cũng như giá vàng SJC với các thương hiệu vàng khác”, Tiến sĩ Cấn Văn Lực nhận định.

Trong khi đó, ở một góc độ khác, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa - Ủy viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ quốc gia lại nhận định, đấu thầu vàng có thể tạo ra tâm lý yên tâm ngắn hạn cho nhà đầu tư, song giải pháp căn cơ nhất, dài hạn nhất và đúng thông lệ quốc tế nhất là cho phép xuất nhập khẩu vàng tự do, cho phép sản xuất kinh doanh vàng tự do và áp dụng chính sách thuế phù hợp.

“Trên thế giới, còn mỗi Việt Nam là ngân hàng trung ương độc quyền xuất nhập khẩu vàng miếng. Hiện nay, vàng miếng SJC không chênh lệch các thương hiệu vàng miếng khác về chất lượng, nhưng giá cả lại chênh lệch rất lớn là phi lý. Chúng ta nên trả lại thương hiệu SJC cho doanh nghiệp để họ kinh doanh bình đẳng như các doanh nghiệp khác”, Tiến sĩ Nghĩa lưu ý.

Cũng theo Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, đối với câu chuyện vàng, có hai vấn đề lớn là chống vàng hóa và chống chênh lệch giá cao bất hợp lý giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới. Đến nay, công tác chống vàng hóa đã được thực hiện thành công vì Ngân hàng Nhà nước đã tách vàng ra khỏi hệ thống ngân hàng (cấm vàng trở thành tiền gửi và cho vay trong hệ thống ngân hàng).

“Chúng ta đã cấm sử dụng vàng như phương tiện huy động và cho vay, nên câu chuyện chống vàng hóa đã kết thúc”, ông Nghĩa khẳng định.

Vấn đề còn lại là chênh lệch giá vàng trong nước với giá vàng thế giới, có lúc lên tới 30% là rất phi lý.

Lý giải căn nguyên của tình trạng này, theo Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa là từ khi Nghị định 24/2012/NĐ-CP ra đời đến nay, nguồn cung vàng bị cắt đứt, doanh nghiệp không được phép nhập khẩu vàng, trong khi nhu cầu trong nước vẫn lên tới khoảng 55 tấn mỗi năm (theo số liệu của Hội đồng Vàng thế giới).

“Như vậy, muốn xóa bỏ chênh lệch phi lý giữa giá vàng trong nước với thế giới, chúng ta cần các biện pháp thương mại chứ không phải biện pháp tiền tệ như là đấu giá vàng miếng. Đơn giản nhất là cho phép các công ty kinh doanh vàng đủ điều kiện xuất nhập khẩu để họ tự xuất nhập khẩu, kinh doanh vàng miếng, vàng trang sức. Còn về phía cơ quan quản lý, có thể dùng công cụ mạnh nhất của Chính phủ để xử lý vấn đề này là thuế. Hải quan hiện nay đã áp dụng hải quan điện tử, có thể quản lý chặt chẽ chuyện xuất nhập khẩu vàng. Với thị trường trong nước, cần áp dụng hóa đơn điện tử cho hoạt động mua bán vàng. Chỉ cần như vậy là đủ”, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa đề xuất.

Mặt khác, khối lượng ngoại tệ để xuất nhập khẩu vàng ước không lớn, chỉ khoảng 3 tỷ USD, thấp hơn rất nhiều so với nhập khẩu hàng chục tỷ USD xăng dầu hay các loại nguyên liệu khác. Do đó, không đáng ngại về vấn đề tỷ giá khi cho nhập khẩu vàng.

Còn theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, đâu đó Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng vàng nhất định vì về cơ bản nguồn vàng sản xuất trong nước không nhiều. Tuy nhiên, cơ quan quản lý sẽ phải tính toán xem cần nhập bao nhiêu vàng và nhập ở thời điểm nào cho phù hợp để vừa cân đối cung - cầu vừa kiểm soát tỷ giá, ổn định vĩ mô.

“Theo tôi, Ngân hàng Nhà nước đã có giải pháp để xử lý vấn đề này”, ông Lực khẳng định.

Đồng thời, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cũng lưu ý, thời gian qua, giá vàng trong nước tăng mạnh phần lớn do giá vàng thế giới. Từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới tăng khoảng 20% (giá vàng trong nước tăng khoảng 13%), do biến động địa chính trị, xung đột vũ trang ở một số nước trên thế giới.

“Nguyên nhân giá vàng thế giới tăng phi mã thời gian qua chủ yếu là các ngân hàng trung ương dồn dập mua vào để tăng dự trữ. Trong bối cảnh này, Việt Nam lẽ ra cũng nên mua để dự trữ hơn là đưa vàng dự trữ ra để bán đấu thầu”, ông Lê Xuân Nghĩa cho biết thêm.

Chia sẻ quan điểm về vấn đề vàng, Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam Nguyễn Bá Hùng cũng đưa ra nhận định, vừa qua thị trường vàng thế giới có nhiều biến động. Với thị trường vàng thế giới, thông thường vàng được dùng là công cụ quản lý rủi ro khi có những biến động về chính trị.

Trong bối cảnh địa chính trị thuận lợi, nhu cầu vàng sẽ thấp. Ngược lại, khi địa chính trị căng thẳng, nhu cầu vàng sẽ cao. Vì vậy, động thái mua ròng vàng thể hiện phản ứng của các ngân hàng trung ương đối với những biến động chính trị thời gian qua.

“Với thị trường vàng trong nước, chủ yếu là biến động của cung - cầu. Tâm lý thị trường vàng Việt Nam rất đặc thù. Nguồn cung vàng trong nước rất hạn chế và khi có biến động, tác động về tâm lý hoặc do các xu hướng, kể cả chính sách tiền tệ với lãi suất thấp, các công cụ đầu tư khác không quá hấp dẫn,… nhu cầu về vàng tăng lên. Cầu tăng mà cung không tăng thì giá tăng”, ông Nguyễn Bá Hùng cho biết.

Theo Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Phường Trung Tâm xây dựng mô hình kinh tế đa trụ cột

Phường Trung Tâm xây dựng mô hình kinh tế đa trụ cột

Trước yêu cầu phát triển nhanh gắn với bền vững, phường Trung Tâm kiên định xây dựng mô hình kinh tế đa trụ cột, hài hòa giữa đô thị và nông nghiệp, giữa tăng trưởng và chất lượng. Thực tiễn năm 2025 khẳng định đây không chỉ là định hướng mà đã được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể.

Phát triển năng lực lãnh đạo - yếu tố quan trọng khi Việt Nam hướng tới tầm nhìn 2045

Phát triển năng lực lãnh đạo - yếu tố quan trọng khi Việt Nam hướng tới tầm nhìn 2045

Việc triển khai các Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh được xem là bước đi quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo và nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực tài chính, công nghệ và phát triển bền vững.

Cần một quy trình đồng bộ để bảo vệ "sức khỏe" đất canh tác

Thu gom rác thải nhựa trên đồng ruộng: Cần một quy trình đồng bộ để bảo vệ "sức khỏe" đất canh tác

Sự chuyển dịch mạnh mẽ sang sản xuất hàng hóa tại tỉnh Lào Cai với những vùng chuyên canh quy mô lớn đã khẳng định vai trò "trụ đỡ" của nông nghiệp trong nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình thâm canh là lượng rác thải nhựa từ màng phủ nilon và bao gói thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đang gia tăng áp lực lớn lên môi trường đất và nước. 

Ngành thuế hướng đến quản trị số

Ngành thuế hướng đến quản trị số

Ngày 10/12/2025, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 chính thức được Quốc hội thông qua, đánh dấu bước ngoặt trong việc xây dựng hệ thống thuế hiện đại, công bằng, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, ngành Thuế tỉnh Lào Cai đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, khẳng định vai trò là đối tác tin cậy, đồng hành cùng người nộp thuế trong kỷ nguyên mới.

Kinh tế số động lực tăng trưởng mới

Kinh tế số động lực tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS) diễn ra mạnh mẽ, phát triển kinh tế số (KTS) đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tại Lào Cai, cùng với đẩy mạnh CĐS trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhiều mô hình kinh doanh, quản lý và dịch vụ dựa trên nền tảng số đã hình thành, góp phần nâng cao tỷ trọng KTS và mở ra dư địa tăng trưởng mới cho địa phương.

Hạ tầng kết nối - động lực phát triển ở Quy Mông

Hạ tầng kết nối - động lực phát triển ở Quy Mông

Những năm gần đây, xã Quy Mông được đầu tư xây dựng nhiều công trình hạ tầng giao thông kết nối các vùng sản xuất, thúc đẩy giao thương. Hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao đời sống người dân.

Chi cục Hải quan khu vực VII: Đồng hành với doanh nghiệp, tăng thu ngân sách nhà nước

Chi cục Hải quan khu vực VII: Đồng hành với doanh nghiệp, tăng thu ngân sách nhà nước

Trước tình hình hoạt động xuất - nhập khẩu những tháng đầu năm 2026 chịu tác động của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài, Chi cục Hải quan khu vực VII vẫn duy trì ổn định hoạt động quản lý, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.

Phong Dụ Thượng: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Phong Dụ Thượng: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Những năm gần đây, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xã Phong Dụ Thượng xác định nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm bền vững, tăng thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Từ thực tiễn địa phương, công tác đào tạo nghề từng bước gắn với nhu cầu thị trường lao động, điều kiện sản xuất và định hướng phát triển kinh tế của xã.

fb yt zl tw