Sớm ban hành quy định mới về chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Dự thảo Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 đang được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, dự kiến trình Chính phủ sớm ban hành trong thời gian tới.

17-9-da-ngheo.jpg
Ruộng bậc thang ở xã Hồng Thái, tỉnh Tuyên Quang. (Ảnh minh họa)

Dự thảo Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định) đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng với nhiều nội dung mới.

Dự thảo Nghị định có 4 điều, đang được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, trình Chính phủ ban hành Nghị định trong tháng 9/2025.

Đối tượng áp dụng là hộ gia đình theo quy định của Luật Cư trú; các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Dự thảo Nghị định có một số nội dung đáng quan tâm.

Thứ nhất, văn bản đã xây dựng được tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Với tiêu chí thu nhập, dự thảo Nghị định đề xuất ở khu vực nông thôn, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là 2.200.000 đồng/người/tháng. Còn ở khu vực đô thị, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là 2.800.000 đồng/người/tháng.

Dự thảo Nghị định quy định rõ về 6 chiều và các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt về dịch vụ xã hội cơ bản cụ thể dưới đây.

Với tiêu chí thu nhập, dự thảo Nghị định đề xuất ở khu vực nông thôn, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là 2.200.000 đồng/người/tháng. Còn ở khu vực đô thị, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là 2.800.000 đồng/người/tháng.

Chiều thiếu hụt việc làm gồm: chỉ số việc làm, chỉ số người phụ thuộc trong hộ gia đình.

Chiều thiếu hụt y tế gồm: chỉ số bảo hiểm y tế, chỉ số dinh dưỡng.

Chiều thiếu hụt giáo dục gồm: chỉ số trình độ giáo dục của người lớn, chỉ số tình trạng đi học của trẻ em.

Chiều thiếu hụt nhà ở gồm: chỉ số diện tích nhà ở bình quân đầu người, chỉ số chất lượng nhà ở.

Chiều thiếu hụt thông tin gồm: chỉ số sử dụng dịch vụ viễn thông.

Chiều thiếu hụt nước sinh hoạt, vệ sinh và môi trường gồm: chỉ số nguồn nước sinh hoạt, chỉ số nhà tiêu (công trình phụ) hợp vệ sinh, chỉ số xử lý rác thải.

Quy định đo lường các chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản được ban hành cụ thể tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Thứ hai là quy định về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ gia đình cư trú ở khu vực nông thôn, đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người từ 1.900.000 đồng/người/tháng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người trên 1.900.000 đồng/người/thángđến 2.200.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Hộ nghèo khu vực đô thị là hộ gia đình cư trú ở khu vực đô thị, đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người từ 2.500.000 đồng/người/tháng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người trên 2.500.000 đồng/người/tháng đến 2.800.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ gia đình cư trú ở khu vực nông thôn, có thu nhập bình quân đầu người trên 1.900.000 đồng/người/tháng đến 2.200.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Hộ cận nghèo khu vực đô thị là hộ gia đình cư trú ở khu vực đô thị, có thu nhập bình quân đầu người trên 2.500.000 đồng/người/tháng đến 2.800.000 đồng/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Về công tác tổ chức thực hiện, dự thảo Nghị định cũng quy định cụ thể nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương và tổ chức chính trị-xã hội.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện 4 nhiệm vụ sau:

Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn quy trình, phương pháp rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 và mẫu, biểu báo cáo.

Chỉ đạo, tập huấn, hướng dẫn cho các địa phương tổ chức thực hiện rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 và báo cáo định kỳ, thường xuyên theo quy định.

Tổng hợp, công bố kết quả rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác rà soát, công nhận và thu thập, quản lý Cơ sở dữ liệu về hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Hằng năm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 tại các địa phương; năm 2030 tổ chức tổng kết việc thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Bộ Tài chính thực hiện 3 nhiệm vụ dưới đây:

Bổ sung hệ thống thu thập số liệu các chiều, chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 trong Khảo sát mức sống dân cư hằng năm nhằm phục vụ theo dõi, đánh giá tình trạng nghèo đa chiều của quốc gia và các địa phương.

Hằng năm công bố tỷ lệ nghèo đa chiều (cập nhật chỉ số giá tiêu dùng) và kết quả đo lường các chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 trên toàn quốc.

Cân đối, bố trí ngân sách thực hiện các chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Bộ Y tế quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn về nước sinh hoạt, nhà tiêu hợp vệ sinh quy định tại dự thảo Nghị định này.

Trên cơ sở kết quả rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm trên toàn quốc (Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố) và quyết định phê duyệt kết quả của các địa phương, các bộ, cơ quan đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp tác động trong các chương trình, dự án, chính sách đặc thù và thường xuyên nhằm nâng cao thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, nhất là các vùng có tỷ lệ nghèo đa chiều cao.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường giám sát việc thực hiện xác định đối tượng và quá trình triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ cho các đối tượng theo quy định tại Nghị định này nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện các nhiệm vụ sau:

Chỉ đạo, ban hành kế hoạch thực hiện chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn.

Công bố kết quả rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn.

Tổ chức thực hiện các giải pháp hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo nâng cao thu nhập và khả năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ xã hội cơ bản.

Căn cứ điều kiện thực tế, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể quy định chuẩn nghèo đa chiều của địa phương cao hơn so với chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 (nâng mức tiêu chí về thu nhập, điều chỉnh, bổ sung các chiều, chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, quy định về đo lường chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản) làm căn cứ thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù trên địa bàn.

Trước đó, trong Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/1/2021 của Chính phủ, các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 được quy định như sau:

Với tiêu chí thu nhập, khu vực nông thôn là 1.500.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị là 2.000.0000 đồng/người/tháng.

Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản gồm có: Các dịch vụ xã hội cơ bản (6 dịch vụ); Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số).

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 18/1/2022.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống; hỗ trợ các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn.

Chương trình đề ra những mục tiêu cụ thể. Đó là: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5%/năm; Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm trên 3%/năm; 30% huyện nghèo, 30% xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn; Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm từ 4-5%/năm.

nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Gia tăng thủ đoạn giả mạo Bộ Tài chính để lừa đảo trên mạng

Gia tăng thủ đoạn giả mạo Bộ Tài chính để lừa đảo trên mạng

Trước tình trạng xuất hiện ngày càng nhiều website và tài khoản mạng xã hội giả mạo Bộ Tài chính nhằm mục đích lừa đảo, Bộ Tài chính đang phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường rà soát, xử lý và gỡ bỏ các nội dung vi phạm, đồng thời khuyến cáo người dân, doanh nghiệp nâng cao cảnh giác khi tiếp cận thông tin trên không gian mạng.

Nợ thuế dù nhỏ vẫn có thể bị tạm hoãn xuất cảnh: Người dân cần cảnh giác tránh “kẹt” ở sân bay

Nợ thuế dù nhỏ vẫn có thể bị tạm hoãn xuất cảnh: Người dân cần cảnh giác tránh “kẹt” ở sân bay

Dù quy định hiện hành nêu ngưỡng nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên và quá hạn trên 120 ngày mới xem xét tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, hộ kinh doanh, thực tế vẫn phát sinh nhiều trường hợp bị ảnh hưởng vì các khoản nợ rất nhỏ, thậm chí chỉ vài nghìn hoặc vài chục nghìn đồng - đặc biệt trong các trường hợp người nộp thuế được xác định “không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký”.

Những điều cần biết về hỗ trợ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi và chính sách dân số mới từ năm 2027

Những điều cần biết về hỗ trợ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi và chính sách dân số mới từ năm 2027

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dân số. Trong đó, đáng chú ý là quy định hỗ trợ tài chính tối thiểu 2 triệu đồng đối với phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi cùng nhiều chính sách hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh.

CHÍNH THỨC: Bỏ giấy đăng kiểm, chuyển hoàn toàn sang dữ liệu điện tử từ hệ thống quốc gia

CHÍNH THỨC: Bỏ giấy đăng kiểm, chuyển hoàn toàn sang dữ liệu điện tử từ hệ thống quốc gia

Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định số 744/QĐ-BXD ngày 18/5/2026 về việc công bố dữ liệu và hướng dẫn kết nối, khai thác, sử dụng dữ liệu đăng kiểm phương tiện giao thông, thay thế các loại giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính, có hiệu lực ngay sau khi ban hành.

fb yt zl tw