Quay về E-magazine Theo dõi Báo Lào Cai trên Google News
Nửa thế kỷ “giữ lửa” nghề đan gùi

Nửa thế kỷ “giữ lửa” nghề đan gùi

Hàng chục năm qua, ngoại trừ lúc ốm đau hoặc nhà có việc, mỗi phiên chợ cuối tuần thường không vắng bóng vợ chồng lão nông người Nùng với những chiếc gùi - sản phẩm thủ công đặc trưng của người dân nơi miền cao núi nhọn.

Chọn cho mình một góc nhỏ nơi chợ phiên, vợ chồng già người Nùng không vồn vã mà khiêm nhường như chính con người họ nhưng khi có người đến xem gùi, cả hai đều xởi lởi, nhiệt thành giới thiệu sản phẩm do chính mình làm ra.

Trong vai người mua gùi, tôi tìm đến nơi góc nhỏ chợ phiên, nụ cười hồn hậu tỏa ra trên gương mặt của lão ông, cùng với lời giới thiệu, tư vấn mộc mạc đậm chất người vùng cao khiến tôi và một số khách hàng bất ngờ. Do mục đích muốn tiếp cận là tìm hiểu nghề làm gùi của người Nùng nên tôi cố tình nán lại, ngắm nghía và không quên đặt ra những câu hỏi. Thay vì tỏ ra khó chịu, vẫn nụ cười hồn hậu ấy, ông bảo: Tý nữa tan chợ, mời cháu đến nhà, ông sẽ chia sẻ nhiều hơn.

z5565124917747_f1c3e706dc79ccebe9c63af197b96afd.jpg

Chợ phiên dần thưa bóng người. Tôi giúp ông bà thu dọn vài chiếc gùi chưa bán hết, rồi theo họ sải bước về Na Đẩy. Tuyến đường thôn được đổ bê tông dẫn chúng tôi đến “xưởng gùi”. Ngoài sân, những chiếc gùi được xếp ngay ngắn thành từng hàng, trong nhà, trên gác, chỗ nào cũng có gùi.

Chưa kịp ráo mồ hôi, ông Hoàng Phủ Vàng, thôn Na Đẩy, thị trấn Mường Khương đã vội xắn tay áo, cầm con dao sắc lẹm chẻ đôi cây trúc. Chỉ một thoáng, cây trúc đã được chẻ thành các thanh nan đều tăm tắp. Xong công đoạn này, lão ông ở tuổi “thất thập cổ lai hy” mới dừng tay và bộc bạch: Không phải vì đặt hàng, mà tôi muốn “trổ tài” làm gùi của người Nùng cho cháu xem.

Quả thực, cách tiếp khách của “nghệ nhân” Hoàng Phủ Vàng chẳng giống ai. Bắt đầu câu chuyện không phải bằng những lời có cánh mà bằng việc làm cụ thể, bằng một công đoạn mở màn khiến tôi háo hức muốn tìm hiểu thêm nữa. Khi tôi muốn ông chia sẻ về quy trình làm gùi thì lúc này, thay vì vội vã như lúc trước, ông lại chậm rãi pha chè mời khách, nhấp ngụm trà Shan tuyết nổi tiếng của “xứ Mường”, ông kể về nghề truyền thống đã “theo” đến nửa thế kỷ.

“Gia đình tôi có 5 đời làm nghề đan gùi trúc, do cụ tôi truyền dạy và các thế hệ tiếp nối trao truyền cho nhau đến bây giờ. Được bố truyền dạy, năm 21 tuổi, tôi biết đan gùi trúc”, ông Vàng tâm sự.

Nhìn tưởng đơn giản nhưng để có được chiếc gùi đẹp, bền chắc đòi hỏi rất nhiều công sức, thậm chí cả… máu đấy!

Ông Hoàng Phủ Vàng bộc bạch

Thấy tôi ngạc nhiên, ông Vàng liền xòe hai bàn tay với chằng chịt vết sẹo đã liền theo năm tháng và bảo: Khi mới học đan gùi sẽ không thể tránh khỏi bị cật trúc, lưỡi dao cắt vào da thịt, thậm chí có những vết cắt rất sâu.

Như để chứng minh cho lời của mình, ông Vàng đưa cho tôi thanh cật trúc mà ông mới chẻ, chỉ cần chạm nhẹ vào phần cạnh là đã cảm nhận được sự sắc lạnh đến vô tình.

z5566590706862_f828294eba5edb182cfb9818f266101e.jpg

Cầm đoạn trúc dài hơn 3 m, ông Vàng cho hay: Chọn vật liệu là công đoạn đầu tiên nhưng quyết định đến chất lượng của sản phẩm. Vật liệu để đan gùi là cây trúc rừng. Không giống cây trúc mà nhiều người thường làm cần câu cá, cây trúc rừng có thân tương đối to, đường kính khoảng 5 - 7 cm. Sau khi cưa sát gốc, cây trúc được róc sạch cành và lá, sau đó mang về nhà, đo khoảng 15 gang tay người lớn từ gốc, rồi cưa lấy đoạn này.

z5565124917722_7bb071fb60f91a6d00f5a057faa0d74a.jpg

Để chẻ được các thanh nan đều nhau bắt buộc phải dùng dao thật sắc, do vậy chỉ cần sơ sểnh là đứt tay. Nhìn ông thoăn thoắt chẻ từng thanh nan với bề rộng khoảng 1,5 cm, từ thanh nan đó tiếp tục chẻ thành từng sợi nan mỏng vài mm với con dao sắc lẹm, tôi càng hiểu rõ giá trị những vết sẹo chằng chịt trên đôi bàn tay gầy gò của ông Vàng.

Toàn bộ đoạn trúc dài hơn 3 m được “pha” thành các thanh nan để làm vành, cạp miệng gùi, sợi nan để đan, còn phần ngọn của cây trúc được chẻ thành các thanh làm kiềng đáy. Như vậy, cả cây trúc rừng đều được tận dụng, không bị lãng phí.

Khi có đủ nguyên liệu, ông Vàng bắt tay đan gùi ngay, bởi khi còn tươi, sợi nan sẽ dẻo, dễ đan, nếu để khô, sợi nan sẽ giòn, dễ gãy. Khi đan, bắt buộc xếp nan với 7 đôi dọc, 9 đôi ngang, nếu thiếu 1 đôi hoặc 1 nan sẽ không đan nổi. Đan xong phần đáy, các sợi nan dài hơn 3 m được “vuốt” lên và tiếp tục được đan quanh vành. Cầm 4 thanh nan được chẻ bằng nhau, ông Vàng cho hay: Các thanh nan này được chẻ đều, phần cật làm nan đan, phần còn lại làm vành. Mỗi vành được ghép bằng 4 thanh nan, tuy nhiên 2 thanh nan ngoài cùng phải vót mỏng một cạnh thì khi đan sợi nan mới khít và chặt. “Điều đặc biệt hơn cả, chỉ làm 8 vành, nếu làm 7 hay 9 vành thì sẽ không ai mua”, ông Vàng “bật mí”.

z5578503998071_1dcb2f9ce7b32d6f13ace2e3aa2ff1a3.jpg

Khi tôi hỏi: Vì sao lại như vậy? Ông Vàng cho hay: Không biết tại sao nhưng mọi người không mua nếu gùi có 7 hoặc 9 vành, có lẽ do người ta kiêng 2 con số này.

Đôi bàn tay của lão ông đã 73 tuổi cứ thoăn thoắt, uyển chuyển, chẳng mấy chốc đã đến công đoạn cuối cùng - cạp miệng gùi. Ông Vàng chọn 4 thanh nan đều nhau, xếp chồng lên rồi quấn quanh phần miệng gùi. Một tay giữ chặt, một tay “xiên” sợi nan đã được chẻ mỏng, cạo hết lớp vỏ xanh phía ngoài, theo quy luật, cứ 3 mắt lại “xiên” sợi nan cho đến khi sợi nan che kín cạp miệng.

z5578504051667_53c6ed8fd0518fca3426d5dd4b00a005.jpg

Quan sát kỹ, tôi nhận thấy, khi cạp miệng gùi, đôi tay của lão ông không mềm mại như lúc đan thân gùi mà vô cùng rắn rỏi, gân và mạch máu trên mu bàn tay nổi lên do phải kéo sợi nan cho chặt. Ngắm nghía chiếc gùi vừa làm xong, ông Vàng vô cùng hài lòng. Dù không thể nhớ được trong suốt 51 năm mình đã đan được bao nhiêu chiếc gùi, nhưng ông Vàng luôn giữ thói quen, mỗi lần đan xong, ông đều ngắm lại thành quả, bởi khi mình hài lòng thì khách hàng mới hài lòng.

Theo chia sẻ của ông Vàng, cứ 2 cây trúc rừng làm được 1 chiếc gùi. Những người có tay nghề cao và đảm nhiệm tất cả công đoạn thì 1 ngày chỉ làm được 2 chiếc gùi, chứ không thể hơn. Mỗi chiếc gùi được bán với giá 100.000 đồng (nếu có thêm dây đeo sẽ bán với giá 150.000 đồng), trừ tiền mua vật liệu (cây trúc rừng) thì có lãi từ 80.000 đến 130.000 đồng/chiếc.

Do thu nhập từ đan gùi không cao nên nhiều người ở thôn Na Đẩy đã bỏ nghề truyền thống để tìm kiếm công việc khác có thu nhập cao hơn. Hiện cả thôn chỉ còn đếm trên đầu ngón tay người đang làm nghề đan gùi và đặc biệt hơn cả, họ đều ở tuổi “xưa nay hiếm”, trong đó có ông Hoàng Phủ Vàng. “Một ngày không đan gùi, cuối tuần không đi chợ phiên bán gùi là tôi thấy nhớ nghề, nhớ chợ. Cho nên, dù lấy công làm lãi thì tôi vẫn gắn bó với nghề mà cha ông đã trao truyền đến khi tay không chẻ được nan, chân không đi được đến chợ thì mới thôi”, ông Vàng bộc bạch.

Lặng lẽ, mải miết, lão nông người Nùng - Hoàng Phủ Vàng vẫn tiếp tục “giữ lửa” nghề đan gùi của dân tộc mình. Nơi góc chợ phiên Mường Khương cuối tuần sẽ không vắng những chiếc gùi của người Nùng ở Na Đẩy.

z5565124935817_137306c1abbb0ba4bebd6c1f28e1a485.jpg

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Độc đáo nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường

Độc đáo nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường

Nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường tỉnh Hoà Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là sự tôn vinh, ghi nhận và là niềm tự hào của người Mường, động lực để đồng bào tiếp tục giữ gìn và phát huy giá trị di sản.

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Ẩn mình giữa núi rừng vùng cao, những tấm giấy bản mỏng nhẹ nhưng dai bền vẫn lặng lẽ gìn giữ kho tàng tri thức dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số. Giấy bản không chỉ là chất liệu, mà còn là minh chứng sống động cho một nghề thủ công giản dị, âm thầm bền bỉ trước sự bào mòn của thời gian.

Phụ nữ dân tộc Mông với nghề dệt lanh truyền thống

Phụ nữ dân tộc Mông với nghề dệt lanh truyền thống

Giữa lòng Cao nguyên đá hùng vĩ có một câu chuyện về văn hóa bản địa và hành trình vươn lên mạnh mẽ của những người phụ nữ dân tộc Mông. Từ sợi lanh truyền thống, họ đã và đang bền bỉ dệt nên sự bình đẳng, nâng tầm vị thế của mình trong cộng đồng.

[Ảnh] Phụ nữ vùng cao giữ nghề truyền thống

[Ảnh] Phụ nữ vùng cao giữ nghề truyền thống

Những tri thức dân gian làm nghề truyền thống của các dân tộc vùng cao Lào Cai đã có từ ngàn đời nay. Trong nhịp sống hiện đại, những tri thức ấy vẫn được đồng bào gìn giữ và lưu truyền, tạo nên nét đẹp độc đáo của mỗi dân tộc. 

[Ảnh] Đồng bào các dân tộc vùng cao Bát Xát giữ nghề đan lát

[Ảnh] Đồng bào các dân tộc vùng cao Bát Xát giữ nghề đan lát

Huyện Bát Xát có 23 nhóm, ngành dân tộc với bản sắc văn hóa phong phú. Trải qua nhiều thế hệ, các dân tộc trên vùng cao Bát Xát đã sáng tạo và lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề đan lát. Từ đôi bàn tay khéo léo và sự chăm chỉ, cần mẫn, các nghệ nhân ở thôn, bản đã sáng tạo nhiều sản phẩm thủ công đan lát phục vụ đời sống hằng ngày và nhu cầu của cộng đồng.

Giữ nghề nơi bản nhỏ

Giữ nghề nơi bản nhỏ

Sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa Tày, bà Nguyễn Thị San, ở bản Nà Khương là một trong số ít người ở xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên còn am hiểu và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Bà đã và đang nỗ lực truyền dạy lại cho lớp trẻ, vừa để giữ gìn văn hóa truyền thống, vừa phục vụ phát triển du lịch cộng đồng.

Lão nông Hà Nhì 30 năm giữ nghề đan mâm

Lão nông Hà Nhì 30 năm giữ nghề đan mâm

Từ những thanh gỗ pơ mu cũ kỹ bị vùi trong lớp đất mục tưởng như bỏ đi hoặc chỉ dùng vào việc chẻ ra nhóm bếp, ông Chu Xe Gió, người Hà Nhì, xã Nậm Pung (Bát xát) có thể tách ra thành những chiếc nan mỏng như tấm bìa giấy để đan mâm theo kỹ thuật truyền thống của dân tộc Hà Nhì. Điều đáng nói, ông Chu Xe Gió là truyền nhân duy nhất của xã Nậm Pung có thể đan mâm bằng nan gỗ pơ mu trong khi một số người khác chỉ đan được bằng nan tre quen thuộc.

Sức sống di sản nghề cói Kim Sơn

Sức sống di sản nghề cói Kim Sơn

Sau khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nghề cói Kim Sơn (Ninh Bình) đã có bước phát triển rõ rệt. Người dân hưởng lợi trực tiếp từ việc tăng giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và phát triển du lịch làng nghề.

[Ảnh] Tinh hoa nghề gốm Bát Tràng

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Tinh hoa nghề gốm Bát Tràng

Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Dư địa chí của Nguyễn Trãi, làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời nhà Lý, vào khoảng thời gian vua Lý Thái Tổ dời đô từ Thăng Long ra Hoa Lư. Các sản phẩm gốm Bát Tràng đã phát triển, lưu thông rộng rãi trong nước từ thế kỷ XV, đến thế kỉ XVI, XVII phát triển mạnh mẽ và xuất khẩu ra nước ngoài. Trải qua thăng trầm của lịch sử, làng gốm Bát Tràng vẫn luôn giữ được nét đẹp truyền thống, tự hào là làng nghề gốm sứ lâu đời và nổi tiếng nhất của cả nước.

Hoa văn phượng hoàng trên trang phục của người Nùng Dín

Hoa văn phượng hoàng trên trang phục của người Nùng Dín

Một trong những đặc điểm nhận diện rõ nhất trong trang phục truyền thống của người Nùng Dín ở huyện vùng cao Mường Khương chính là vẻ đẹp tinh tế và đầy màu sắc của hoa văn phượng hoàng thêu trên váy áo, khăn đội đầu, giày vải, địu và mũ của trẻ em…

[Ảnh] Làng Vị Khê - nơi trồng cây cảnh nổi tiếng nhất Nam Định

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Làng Vị Khê - nơi trồng cây cảnh nổi tiếng nhất Nam Định

Đến làng cây cảnh Vị Khê (xã Điền Xá, nay là xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), nhiều người không khỏi trầm trồ trước sự khéo léo của các nghệ nhân chăm sóc những cây cảnh tiền tỷ. Đặc biệt, làng cây cảnh này đã có lịch sử tồn tại gần 1.000 năm.

[Ảnh] Đến Hà Nam thăm làng nghề trống Đọi Tam

Hành trình dọc sông Hồng: [Ảnh] Đến Hà Nam thăm làng nghề trống Đọi Tam

Làng nghề trống Đọi Tam ở xã Tiên Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam là làng nghề có lịch sử phát triển hơn 1.000 năm và là làng nghề nổi tiếng với sản phẩm trống truyền thống. Ngoài việc giữ gìn những giá trị văn hóa độc đáo, làng nghề còn linh hoạt đổi mới để đáp ứng nhu cầu thị trường, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho người tiêu dùng.

Bài 4: Độc đáo những làng nghề bên dòng sông mẹ

Sông Hồng – Hành trình di sản Bài 4: Độc đáo những làng nghề bên dòng sông mẹ

Cùng với những di tích khảo cổ, những lịch sử - văn hóa mang nhiều giá trị bên sông Hồng, đi đến những vùng đất nơi sông Hồng chảy qua, chúng tôi còn được tham quan, trải nghiệm không gian văn hóa của nhiều làng nghề nổi tiếng hàng trăm năm tuổi ven sông Hồng, tạo nên nét đặc trưng của nền văn minh lúa nước của cư dân người Việt.

fb yt zl tw