Chỉ còn một khoảng cách rất ngắn nữa là hoàn thành mục tiêu về tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch năm 2026. Với 65,21% trường mầm non và phổ thông đã được công nhận đạt chuẩn, Lào Cai đang tiến rất gần đến đích 65,66% mà tỉnh đề ra. Con số chênh lệch chỉ 0,45 phần trăm tưởng như không lớn, nhưng để vượt qua "vạch đích" ấy, ngành Giáo dục địa phương đang phải đối mặt với hàng loạt “nút thắt” không dễ tháo gỡ.
Đằng sau tỷ lệ đã đạt trên 90% kế hoạch (trong đó, khối mầm non: 224 trường, đạt 68,92%; khối tiểu học: 115 trường, đạt 63,53%; khối trung học cơ sở: 103 trường, đạt 59,59%; khối trung học phổ thông: 36 trường, đạt 69,23%; trường phổ thông có nhiều cấp học: 120 trường, đạt 56,87%) là cuộc đua thực sự về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và quá trình sắp xếp lại hệ thống trường lớp. Đây đều là vấn đề mang tính nền tảng, không thể giải quyết chỉ bằng những giải pháp ngắn hạn.
Được biết, sau đợt tuyển dụng viên chức sự nghiệp giáo dục năm 2025, bài toán về đội ngũ giáo viên cơ bản đã được tháo gỡ. Đây từng là một trong những rào cản lớn đối với việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Khi nhân lực từng bước được bổ sung, áp lực hiện nay dồn vào một số "điểm nghẽn" còn lại.
Nổi lên đầu tiên là câu chuyện về cơ sở vật chất. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 13/2020 quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất trường học đã tạo ra một "chuẩn mực mới" đối với hệ thống trường học trên cả nước. Những công trình được xây dựng sau thời điểm này phần lớn đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, không ít trường học được đầu tư từ nhiều năm trước vẫn còn thời hạn sử dụng nhưng lại không còn phù hợp với các tiêu chí mới khi đến kỳ đánh giá, công nhận lại trường chuẩn.
Thực tế này khiến nhiều trường rơi vào tình trạng "sử dụng được nhưng không đạt chuẩn". Diện tích phòng học không đáp ứng yêu cầu, thiếu phòng học bộ môn, phòng hỗ trợ học tập hoặc các hạng mục chức năng chưa đồng bộ khiến nhiều trường dù vẫn duy trì hoạt động dạy học ổn định vẫn khó vượt qua các tiêu chí đánh giá.
Đây là khó khăn không chỉ của riêng Lào Cai mà nhiều địa phương trên cả nước cũng đang gặp phải. Với tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về nguồn lực đầu tư như Lào Cai, việc cải tạo hoặc xây mới hàng loạt công trình trường học càng trở thành bài toán nan giải.
Không chỉ hạ tầng, trang thiết bị dạy học cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Sau nhiều năm sử dụng, nhiều thiết bị đã xuống cấp, không còn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Đặc biệt, các phòng học Tin học và Ngoại ngữ – hai lĩnh vực đang giữ vai trò quan trọng trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và chuyển đổi số vẫn còn thiếu đồng bộ cả về số lượng lẫn chất lượng thiết bị.
Trong khi đó, giáo dục đang hướng đến xây dựng môi trường học tập hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, các phương pháp dạy học số, từng bước kiểm tra, đánh giá và thi tốt nghiệp trung học phổ thông trên máy tính thì việc thiếu máy tính, thiết bị thông minh không chỉ ảnh hưởng đến tiêu chí trường chuẩn, còn tác động trực tiếp đến chất lượng học tập của học sinh.
Một vấn đề khác được ngành Giáo dục chỉ ra là tác động từ việc sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới trường lớp. Đây là chủ trương lớn nhằm tinh gọn bộ máy, sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và khai thác tối đa cơ sở vật chất hiện có. Tuy nhiên, quá trình sáp nhập trường cũng kéo theo hệ quả là số lượng trường đạt chuẩn quốc gia thay đổi đáng kể.
Ông Đinh Văn Toàn, Trưởng phòng Văn hoá - Xã hội xã Thác Bà cho biết: “Địa phương hiện có 12/12 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; 5/12 trường đạt chuẩn mức độ 2. Tuy nhiên, khi hai hoặc nhiều trường được hợp nhất thành một đơn vị mới, hồ sơ công nhận trường chuẩn quốc gia phải được đánh giá lại từ đầu. Điều đó đồng nghĩa với việc, nhiều trường từng đạt chuẩn trước đây không còn được tính vào tỷ lệ chung, khiến chỉ số toàn xã giảm xuống dù chất lượng giáo dục vẫn từng bước phát triển”.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai xác định “Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia là giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện” và cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm như: lồng ghép nhiều nguồn vốn đầu tư, ưu tiên ngân sách địa phương cho việc nâng cấp cơ sở vật chất và bổ sung thiết bị dạy học tối thiểu; tiếp tục rà soát, bố trí đội ngũ giáo viên bảo đảm đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và đáp ứng chuẩn trình độ đào tạo. Đây được xem là nền tảng để duy trì chất lượng trường chuẩn một cách bền vững.
Ở góc độ chuyên môn, các trường tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, triển khai hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đẩy mạnh giáo dục STEM, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục và xóa mù chữ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường kiểm định chất lượng, hỗ trợ các trường cải tiến và hoàn thiện các tiêu chí còn thiếu.
Việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tạo môi trường học tập an toàn, hiện đại, giúp học sinh phát triển toàn diện, thúc đẩy đổi mới quản trị, nâng cao năng lực đội ngũ và ứng dụng công nghệ trong giáo dục. Đặc biệt, đầu tư trường chuẩn ở vùng khó khăn góp phần thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập, hướng tới mục tiêu công bằng trong giáo dục.
Ở góc độ quản lý, quá trình xây dựng trường chuẩn cũng góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn ngân sách nhà nước, tạo điều kiện huy động các nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho giáo dục. Đây là yếu tố quan trọng trong khi nhu cầu đầu tư ngày càng lớn mà nguồn lực công còn nhiều hạn chế.
Không chỉ vậy, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia còn phản ánh mức độ phát triển của hệ thống giáo dục địa phương, góp phần nâng cao uy tín của ngành giáo dục và tạo nền tảng để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đồng chí Đỗ Minh Tâm - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết: Ngày 7/7/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 57/2026/TT-BGDĐT quy định về bảo đảm chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non và trường phổ thông.
Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đổi mới cách tiếp cận quản lý từ đánh giá theo chu kỳ sang quản lý theo quá trình và kết quả thực hiện. Thông tư tạo cơ sở để cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục theo dõi, duy trì, cải tiến chất lượng trong quá trình tổ chức lại hệ thống; góp phần bảo đảm việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục không chỉ tinh gọn về tổ chức mà còn giữ vững và nâng cao chất lượng giáo dục.
Con số 65,66% vì thế không đơn thuần là tỷ lệ thống kê mà là thước đo cho nỗ lực đầu tư, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh Lào Cai. Khi khoảng cách đến đích chỉ còn chưa đầy nửa điểm phần trăm, cuộc đua của ngành Giáo dục Lào Cai không chỉ là hoàn thành một chỉ tiêu theo kế hoạch mà còn là hành trình khẳng định chất lượng giáo dục bằng giá trị thực chất, tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực cho tương lai.