Hướng tiếp cận mới để số hóa di sản

Việc số hóa di sản không chỉ là xu hướng tất yếu của thời đại công nghệ; trước những thách thức của thời gian, số hóa còn là giải pháp hữu hiệu để bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Không thay thế tiếp xúc trực tiếp

Hệ thống bảo tàng và các điểm di tích tại Việt Nam triển khai dự án số hóa trong khoảng 5 năm trở lại đây, nhất là sau những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Công tác này giúp các bảo tàng, di tích tiếp cận với công chúng qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm trực tuyến, từ đó phát huy nhiều hơn giá trị lịch sử, giá trị giáo dục của di sản. Phổ biến trong số đó là áp dụng giải pháp Virtual 360 và mô hình 3D các hiện vật trưng bày, giúp người xem có thể trải nghiệm di sản một cách trực quan và sinh động, ngay cả khi họ không thể đến thăm trực tiếp. Việc phát triển mô hình “bảo tàng ảo” còn mang đến cơ hội gia tăng nguồn thu, dẫu vậy trên thực tế hiệu quả về doanh thu chưa như kỳ vọng.

Nhiều ý kiến đặt vấn đề ngược lại, khi không còn giãn cách xã hội và điều kiện địa lý gần gũi, người tham quan hẳn sẽ chọn đến trực tiếp bảo tàng, di tích để chiêm ngưỡng, tương tác; thú vị hơn so với việc ngồi trước màn hình máy tính hay điện thoại. Giới nghiên cứu di sản văn hóa cũng đưa ra quan điểm, sự thành công của số hóa di sản không phải là nhiều người xem trực tuyến, mà từ qua trực tuyến sẽ thu hút thêm lượng khách tham quan trực tiếp bảo tàng. Bằng không, sau số hóa, bảo tàng, di tích… chỉ còn người trông coi và giới quản lý.

Nghiên cứu, xây dựng thống nhất nền tảng kỹ thuật số chung về quản lý, bảo tồn các dữ liệu trong lĩnh vực di sản văn hóa; có khả năng mở rộng để các địa phương, tổ chức kết nối và tích hợp với các hệ thống thông tin khác của Chính phủ, địa phương và các tổ chức liên quan

Trích Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Bên cạnh đó, những giải pháp công nghệ như Virtual 360 và mô hình 3D các hiện vật không thể thay thế cho việc đánh giá hiện trạng của công trình, phát hiện các vấn đề cần bảo tồn và xác định các giải pháp trùng tu, bảo tồn phù hợp.

Mô hình thông tin công trình di sản

Trước thách thức của thời gian, tốc độ đô thị hóa, đã có di tích trở thành phế tích, đặt ra nhiều yêu cầu với công tác bảo tồn di sản hơn là việc chỉ đưa hình ảnh, video lên trang web.

Robot tương tác cùng khách tham quan được triển khai tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM.

Robot tương tác cùng khách tham quan được triển khai tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM.

Dự án phục hồi Nhà thờ Đức Bà Paris (Pháp) là minh chứng thuyết phục nhất trong việc số hóa di sản phải hiểu và thực hành đúng cách. Vụ hỏa hoạn vào năm 2019 đã phá hủy phần lớn mái nhà, tháp chuông và các cấu trúc gỗ bên trong của nhà thờ. May mắn là tất cả các chi tiết này đã được Ubisoft - nhà phát triển trò chơi điện tử Assassin’s Creed quét 3D laser scan vào năm 2014.

Các nhà nghiên cứu và kỹ sư đã sử dụng dữ liệu 3D laser scan này để tạo ra một mô hình H-BIM (Heritage Building Information Modelling - Mô hình thông tin công trình di sản) chi tiết của nhà thờ, giúp xác định vị trí và kích thước của các cấu trúc bị phá hủy. Mô hình này cũng đã được sử dụng để tạo ra các kế hoạch cho việc phục dựng nhà thờ nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Trên toàn cầu, số hóa di sản đang trở thành một xu hướng quan trọng, trong đó áp dụng H-BIM đóng một vai trò không thể thiếu. Là đơn vị thực hiện dự án số hóa Nhà hát Thành phố năm 2020, đại diện Công ty CP Tư vấn thiết kế Cảng - Kỹ thuật biển, chia sẻ: “Đánh giá hiện trạng của công trình là bước quan trọng đầu tiên trong quá trình bảo tồn, giúp các chuyên gia xác định được các vấn đề về cấu trúc, vật liệu… của công trình, từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp. Phát hiện các vấn đề cần bảo tồn là cần thiết để ngăn chặn sự xuống cấp của công trình. Các vấn đề cần bảo tồn có thể bao gồm các vết nứt, rạn, sạt lở... Việc xác định các giải pháp trùng tu, bảo tồn phù hợp là cần thiết để đảm bảo sự bền vững của công trình. Các giải pháp trùng tu, bảo tồn cần được thực hiện một cách cẩn thận và khoa học, để không làm ảnh hưởng đến giá trị lịch sử và văn hóa của công trình. Nếu chỉ áp dụng Virtual 360 và làm mô hình 3D một số hiện vật, thực chất không phải là số hóa di tích, di sản mà phải thực hiện đúng quy trình của UNESCO hướng dẫn về H-BIM”.

Việt Nam hiện đã chủ động thiết lập một khung pháp lý vững chắc để hướng dẫn và ủng hộ áp dụng H-BIM cho các công trình di sản. Hơn nữa, sự kết hợp giữa BIM và hệ thống thông tin địa lý (GIS) mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc số hóa di sản, giúp bảo tồn và nâng cao tính tiếp cận của chúng. Nhu cầu thực tế và khung pháp lý để hướng dẫn đã có, nhưng việc áp dụng vẫn phụ thuộc vào từng nơi, dựa trên nhiều yếu tố khách quan, chủ quan… Vì thế mà đến nay, quá trình số hóa di sản mới chỉ dừng lại ở việc đưa không gian vật lý lên nền tảng số, chứ chưa thực sự số hóa di sản đúng nghĩa để có thể đảm bảo việc bảo tồn, phục hồi khi cần thiết.

Các công trình di tích dù đẹp hay độc đáo đến đâu cũng không nằm ngoài thách thức của thời gian, việc số hóa để bảo tồn và phát huy di sản đang ở trong tình thế cấp bách, nhưng muốn hiệu quả lại cần phải thực hiện đúng phương pháp.

Quy trình H-BIM theo hướng dẫn của UNESCO bao gồm 4 giai đoạn chính: Giai đoạn 1, khảo sát và lập kế hoạch, bao gồm khảo sát mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, cấu trúc, vật liệu…, từ đó lập kế hoạch thực hiện H-BIM với các mục tiêu, phạm vi, thời gian, nguồn lực cụ thể; giai đoạn 2, thu thập dữ liệu gồm các dữ liệu đo đạc, ảnh chụp, quét laser 3D, bản vẽ, hồ sơ thiết kế, ảnh tư liệu, thông tin về vật liệu, cấu trúc…; giai đoạn 3, tập trung phân tích và xử lý dữ liệu để tạo ra mô hình H-BIM; giai đoạn 4, chia sẻ và quản lý dữ liệu hiệu quả để phục vụ cho các mục đích bảo tồn, trùng tu, quản lý...

Báo Sài Gòn giải phóng

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lào Cai: Chuyển đổi số trong quản trị công - đòn bẩy cho phát triển kinh tế bền vững

Lào Cai: Chuyển đổi số trong quản trị công - đòn bẩy cho phát triển kinh tế bền vững

Từ việc ứng dụng các nền tảng số trong giải quyết thủ tục hành chính, quản lý đất đai đến triển khai công nghệ cảm biến giám sát môi trường, tỉnh Lào Cai đang từng bước hình thành hệ sinh thái số minh bạch, hiệu quả, trở thành động lực thu hút các nhà đầu tư theo hướng bền vững.

Kể chuyện văn hoá Dao bằng công nghệ số

Kể chuyện văn hoá Dao bằng công nghệ số

Giữ gìn bản sắc văn hoá là nhiệm vụ quan trọng trong đời sống mỗi dân tộc. Trước đây, các giá trị này thường được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua phương thức truyền miệng hoặc bằng chính việc sống cùng những văn hoá ấy. Ngày nay, trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, thế hệ trẻ các dân tộc Lào Cai, trong đó có dân tộc Dao, đã chủ động đổi mới cách thức bảo tồn di sản. Vẫn là lưu giữ và trao truyền, nhưng họ đang thực hiện điều đó thông qua nền tảng công nghệ số.

Tăng tốc triển khai Nghị quyết 57 tại Cam Đường

Tăng tốc triển khai Nghị quyết 57 tại Cam Đường

Ngày 24/4, UBND phường Cam Đường phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức buổi làm việc nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn.

Chuyển đổi số – đòn bẩy nâng cao chất lượng công tác thanh tra

Chuyển đổi số – đòn bẩy nâng cao chất lượng công tác thanh tra

Sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu về chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng cao, Thanh tra tỉnh Lào Cai đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào hoạt động chuyên môn, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác chỉ đạo, điều hành, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra.

Lào Cai hướng tới mô hình “Văn phòng Tỉnh ủy số”

Lào Cai hướng tới mô hình “Văn phòng Tỉnh ủy số”

Trước yêu cầu nâng cao chất lượng tham mưu, tổng hợp và phục vụ, Văn phòng Tỉnh ủy Lào Cai triển khai xây dựng mô hình “Văn phòng Tỉnh ủy số” theo hướng đồng bộ, hiện đại. Đây không chỉ là bước chuyển trong ứng dụng công nghệ, còn là quá trình đổi mới toàn diện phương thức làm việc, tổ chức dữ liệu và điều hành, nhằm bảo đảm thông tin kịp thời, chính xác, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong giai đoạn mới.

Đoàn công tác Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ tại xã Trịnh Tường

Đoàn công tác Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ tại xã Trịnh Tường

Ngày 20/4, Đoàn công tác của Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai do bà Bùi Phương Loan - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp Nội vụ tỉnh làm trưởng đoàn đã kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ công tác chỉnh lý, số hóa, giao nhận tài liệu và thành lập các tổ, đội thực hiện nhiệm vụ tại xã Trịnh Tường.

Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ bảo trợ xã hội

Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ bảo trợ xã hội

Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hồ sơ và khai thác thông tin đang trở thành xu hướng tất yếu. Tại Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ xã hội số 2 tỉnh Lào Cai, quá trình này đã và đang mang lại những chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm áp lực hành chính và phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số

Thời gian qua, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất, kinh doanh đã giúp nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm, mở ra dư địa tăng trưởng mới, tạo “cú huých” để doanh nghiệp bứt phá trong kỷ nguyên số.

Khi chính sách “chạm” đến từng người dân

Khi chính sách “chạm” đến từng người dân

Thay vì phải xếp hàng chờ đợi nhận tiền mặt tại các điểm chi trả trợ cấp, lương hưu, giờ đây, các đối tượng yếu thế, hưu trí đã có thể nhận tiền trợ cấp chỉ bằng một thao tác chạm trên thiết bị di động. Đây không chỉ là bước tiến về công nghệ, mà là cuộc cách mạng trong quản lý, giúp chính sách “chạm” đến từng người dân một cách nhanh chóng, minh bạch.

fb yt zl tw