Trong khu sản xuất của gia đình ở thôn Tân Thành, xã Bảo Ái, anh Nguyễn Hải Bằng phát triển các mô hình nuôi ếch thương phẩm, ếch giống và ốc nhồi. Đồng hành với công việc chăm sóc vật nuôi cùng anh mỗi ngày là chiếc điện thoại - công cụ để ghi lại quá trình sản xuất, hình ảnh đàn ếch, ao nuôi và sản phẩm.
Những video ngắn được anh đăng tải trên Zalo, Facebook, Tiktok từ quá trình chăm sóc, cho ăn đến hình ảnh vật nuôi và sản phẩm khi xuất bán. Thay vì chỉ giới thiệu sản phẩm bằng lời, anh đưa hình ảnh thực tế của mô hình đến khách hàng, giúp người mua có thêm thông tin trước khi đặt hàng.
Anh Nguyễn Hải Bằng cho biết: “Trước đây, việc tiêu thụ sản phẩm chủ yếu dựa vào khách quen và các mối hàng truyền thống. Khi sử dụng mạng xã hội, tôi quay lại quá trình chăn nuôi, hình ảnh vật nuôi, môi trường và quy mô sản xuất của gia đình để khách hàng trực tiếp theo dõi. Nhờ vậy, nhiều khách hàng biết đến sản phẩm hơn, đầu ra cũng ổn định hơn”.
Từ quảng bá, anh Bằng tiếp tục ứng dụng công nghệ vào theo dõi quá trình nuôi, nhất là các yếu tố như nhiệt độ, chất lượng nước và điều kiện môi trường. Việc cập nhật thường xuyên giúp anh chủ động điều chỉnh cách chăm sóc, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm đơn thuần.
Mỗi năm, gia đình anh xuất bán trên 12 tấn ếch thương phẩm, hàng chục vạn con ếch giống và khoảng 3 tấn ốc nhồi, sau khi trừ chi phí mang lại nguồn thu gần nửa tỷ đồng.
Chị Nguyễn Thị Thúy, một khách hàng của gia đình anh Bằng, cho biết: “Qua các video anh Bằng đăng tải, tôi có thể theo dõi trực tiếp quá trình chăm sóc, từ thức ăn đến điều kiện nuôi. Khi đến tận nơi kiểm tra, chất lượng đúng như hình ảnh giới thiệu nên tôi yên tâm đặt mua. Giờ chúng tôi có thể trao đổi, chốt số lượng qua Zalo, việc đặt hàng vì thế nhanh và thuận tiện hơn”.
Tại cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản An Thường, thôn Đoàn Kết, công nghệ số cũng đang được sử dụng để đưa nông sản địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng.
Mỗi năm, cơ sở chế biến hơn 10 tấn cá nguyên liệu từ hồ Thác Bà thành các sản phẩm như giò cá, xúc xích cá, chả cá, cá sấy, trong đó, chả cá đã được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao; giò cá đang hoàn thiện các điều kiện để được công nhận OCOP 3 sao.
Cùng với nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, cơ sở chú trọng quảng bá sản phẩm trên Facebook, Zalo và các nền tảng trực tuyến. Trung bình mỗi tháng, cơ sở duy trì 4 - 5 phiên livestream và tiếp cận được hàng nghìn lượt khách hàng.
Qua các phiên phát trực tiếp, sản phẩm của cơ sở được giới thiệu trực quan, khách hàng có thể tìm hiểu quy trình chế biến, đặt hàng và trao đổi ngay trên nền tảng số.
Chị Mai Thị Thường - Chủ cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản An Thường cho biết: “Nhờ mở rộng kênh bán hàng, khoảng 30% đơn hàng của cơ sở được kết nối qua các nền tảng trực tuyến nên sản phẩm không chỉ tiêu thụ tại địa phương mà còn được gửi đến khách hàng ở nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước. Qua mỗi phiên phát trực tiếp, chúng tôi vừa giới thiệu sản phẩm, vừa tiếp nhận phản hồi, nắm bắt nhu cầu, điều chỉnh cách giới thiệu sản phẩm phù hợp hơn và chốt đơn ngay trong quá trình tương tác với khách hàng”.
Từ những mô hình cụ thể, ứng dụng công nghệ số ở Bảo Ái đang dần gắn với những việc thiết thực trong sản xuất, kinh doanh. Người dân chủ động ghi lại quy trình sản xuất, đưa sản phẩm lên môi trường số. Các cơ sở sản xuất, chế biến khai thác nền tảng trực tuyến để tiếp cận khách hàng và tìm kiếm thị trường.
Các sản phẩm chế biến từ cá hồ Thác Bà của cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản An Thường được quảng bá, tiêu thụ qua các nền tảng trực tuyến.
Để những cách làm này được nhân rộng, xã Bảo Ái chú trọng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất nâng cao kỹ năng số, lựa chọn công cụ phù hợp với từng mô hình. Trọng tâm là đưa công nghệ vào những khâu có khả năng tạo hiệu quả trực tiếp, từ quản lý sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sản phẩm.
Địa phương xác định chuyển đổi số phải gắn với những nhu cầu thiết thực trong đời sống và phát triển kinh tế. Xã quan tâm hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ, từng bước hình thành thói quen sử dụng nền tảng số trong quảng bá, kết nối thị trường và tiêu thụ sản phẩm.
"Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn về chuyển đổi số cho cán bộ thôn và người dân; hướng dẫn sử dụng những công cụ phù hợp với từng mô hình sản xuất. Điều quan trọng là kỹ năng số phải đi cùng chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng đơn hàng và xây dựng thương hiệu” - ông Tạ Quang Công thông tin thêm.
Có thể thấy, tư duy số đang từng bước trở thành một phần trong cách người dân Bảo Ái tổ chức sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường. Những thay đổi từ cách ứng dụng công nghệ trong từng mô hình đang mở thêm cơ hội nâng cao hiệu quả, giá trị sản phẩm và khả năng thích ứng với yêu cầu mới. Đây là nền tảng để Bảo Ái tiếp tục phát huy lợi thế, khai thác tốt hơn nguồn lực tại chỗ, tạo động lực để kinh tế cơ sở chuyển biến theo hướng chủ động, hiệu quả và bền vững.