Hành trình “hạt gạo làng ta” vươn ra thế giới

50 năm sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hạt thóc (hạt lúa) của Việt Nam tiếp tục hành trình vươn xa, giúp người dân thoát nghèo, có cuộc sống no đủ, viết tiếp câu chuyện kỳ tích mới...

Cựa mình - thức dậy - vươn xa

Những sóng gió từ “khoán chui”, “khoán 10” của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc (Vĩnh Phú) được tổng kết, làm nền tảng để sau này Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết 10 đã đi vào lịch sử cách mạng thời kỳ đổi mới, tạo ra hướng đi tích cực trong tìm tòi cách thức quản lý mới trong nông nghiệp, gắn lợi ích của người nông dân với kết quả lao động, làm thay đổi cấu trúc sản xuất nông nghiệp; nâng cao động lực lao động và gia tăng sản lượng, tự túc được lương thực, dẫn đến nguồn cung gạo dồi dào, đặt nền tảng cho nông nghiệp thị trường, chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất gắn với tiêu thụ và định hướng “kinh tế gạo” hàng hóa cho xuất khẩu. Nhìn nhận về cống hiến của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc khi ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: "Đất nước phải biết ơn anh Kim Ngọc. Một người tâm huyết dám đưa ra cái mới, đến bây giờ đất nước có phát triển là nhờ có lúa gạo mà anh Ngọc đã đi tiên phong".

Nông dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long thu hoạch lúa.

Nông dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long thu hoạch lúa.

Bước ngoặt trong thương mại và dấu ấn hành trình vươn ra thế giới của hạt gạo Việt Nam phải kể đến mốc lịch sử ngày 23/8/1989, khi chuyến hàng đầu tiên lên tới 10.000 tấn gạo 35% tấm, với giá 235USD/tấn, xuất sang Ấn Độ. Chỉ trong hơn 4 tháng cuối năm 1989, Việt Nam đã xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 322 triệu USD, với giá xuất khẩu bình quân 226USD/tấn. Sự kiện trên đánh dấu bước khởi đầu hành trình của hạt gạo Việt Nam liên tục suốt mấy thập kỷ không ngừng phát triển và tác động không nhỏ đến thị trường gạo thế giới.

10 năm sau (năm 1999), hạt gạo Việt tự đánh dấu một cột mốc lịch sử mới bằng kim ngạch xuất khẩu lần đầu vượt 1 tỷ USD, với sản lượng 4,6 triệu tấn và giá xuất khẩu bình quân 227USD/tấn. Việt Nam chính thức trở thành một trong những cường quốc về xuất khẩu gạo trên thế giới. 10 năm sau (năm 2009), sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam lần đầu tiên vượt 6 triệu tấn, với kim ngạch gần 2,5 tỷ USD.

Năm 2011, hạt gạo Việt lập kỷ lục về sản lượng khi đạt tới 7,1 triệu tấn, với kim ngạch 3,65 tỷ USD, giá xuất khẩu bình quân 495USD/tấn. Thời điểm này cũng là khởi sự cho việc nâng cao chất lượng hạt gạo và xây dựng thương hiệu gạo Việt trên thị trường quốc tế. Ngày 30/6/2022, sau khi vượt qua quy trình kiểm nghiệm vô cùng khắt khe với hơn 600 chỉ tiêu, gạo Việt Nam xuất khẩu bằng thương hiệu của chính mình. Từ đây, danh tiếng hạt gạo Việt lan tỏa nhanh trên thế giới.

Vươn ra thế giới, không thể quên ngày 12/11/2019, hạt gạo ST25 do kỹ sư Hồ Quang Cua (Sóc Trăng) lai tạo lần đầu tiên được vinh danh tại Giải “World's Best Rice” - Gạo ngon nhất thế giới, tại Manila (Philippines) và lần thứ hai, gạo ST25 lại lên đỉnh vinh quang khi đoạt giải nhất năm 2023! Một khởi đầu mới cho hạt gạo Việt Nam trên hành trình tạo danh, lập tiếng trên phạm vi toàn cầu. Khi đón nhận danh hiệu này, Anh hùng Lao động Hồ Quang Cua chia sẻ: “Xuất phát từ lòng tự tôn dân tộc, tình yêu tha thiết với hạt gạo, tôi nghĩ Thái Lan làm được, sao mình không làm được! Vì vậy, tôi đặt quyết tâm, gắng sức để lai tạo thành công giống lúa thơm Việt Nam. Tôi tin ST25 sẽ mở ra trang mới trong phát triển thị trường lúa gạo Việt Nam”.

Câu chuyện gạo Việt không chỉ dừng lại trên cánh đồng mà nó còn là câu chuyện về thị trường, giá cả, cạnh tranh, lựa thời và đón thế, có khi là vì nghĩa, vì tình! Ví như tháng 7/2023, Ấn Độ ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo trắng Non-Basmati. Quyết định này đã tạo ra những cơ hội lớn cho xuất khẩu. Chớp thời cơ ấy, Việt Nam tăng tốc, xuất khẩu thêm 1,2 triệu tấn gạo, thu về khoảng 780 triệu USD, nâng tổng mức xuất khẩu cả năm lên 8,3 triệu tấn gạo, trị giá 4,78 tỷ USD, tăng 38,4% so với năm 2022.

Nhờ có danh, có tiếng, hạt thóc, hạt gạo của Đồng bằng sông Cửu Long ngày thêm trỗi dậy. Các doanh nghiệp Việt như Tập đoàn Lộc Trời, Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam-Vinaseed, Tập đoàn Tân Long... thêm tự tin đầu tư, liên kết với nông dân, hợp tác xã xây dựng vùng lúa chuyên canh, vùng nguyên liệu gạo xuất khẩu và xây dựng thương hiệu gạo, nhằm tận dụng lợi thế của các hiệp định thương mại tự do (FTA), thâm nhập những thị trường lớn như Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU), Mỹ... mở rộng cánh cửa cho hạt gạo Việt đi vào thị trường châu Phi, Trung Đông... tạo lực đẩy cho năm 2024 xuất khẩu khoảng 9 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 5,7 tỷ USD. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt mức cao nhất với 627,9USD/tấn, tăng 10,6% so với năm 2023 và liên tiếp có mặt trên 150 thị trường quốc gia, khu vực toàn cầu. Thế giới mỗi khi nói về hạt gạo là nghĩ đến Việt Nam!

Nông dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thu hoạch lúa.

Nông dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thu hoạch lúa.

Tiếng gọi trưởng thành...

Nhìn lại hành trình 50 năm, dường như, cứ qua một chu kỳ 10 năm, hạt gạo Việt lại tự nâng mình lên một tầm cao mới. Việt Nam trở thành cường quốc sản xuất, kinh doanh gạo, là mắt xích quan trọng nhất trong chuỗi cung ứng, an ninh lương thực toàn cầu. Hành trình của hạt gạo cũng là hành trình không ngừng nghỉ của Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong đàm phán, khơi thông, phát triển thị trường; sự "vào trận" linh hoạt, quyết đoán của các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, dịch vụ hậu cần phục vụ phát triển ngành gạo và Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Vượt lên tất cả là sự cần cù đến nhẫn nại, dẻo dai của người nông dân, của lớp lớp người cầm súng chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do để có hôm nay, đồng xanh đã thành tiếng hát.

Tuy nhiên, trong chuỗi giá trị, người trồng lúa mới chỉ thu nhận được 20 - 27% giá trị, doanh nghiệp thu nhận 13 - 27%, phần sinh lời cao nhất 20 - 32% vẫn thuộc về nhà phân phối quốc tế. Hạt gạo Việt mới chỉ làm cho người trồng lúa hết đói, giảm nghèo, chuyện làm giàu từ hạt gạo còn lắm truân chuyên, người nông dân vẫn còn những mùa vụ "lắc lư", "nghiêng ngả", nông nghiệp vẫn khó vào “đường băng cất cánh” khi người nông dân vẫn chưa chủ động được đầu ra của sản phẩm.

Bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, nghề trồng lúa không chỉ trông chờ vào đôi tay tần tảo mà phải biết dựa thêm vào khoa học-công nghệ, nhà khoa học và người trồng lúa. Và gần hơn là xây dựng được hệ sinh thái tận dụng hiệu quả lợi thế của các FTA thế hệ mới, giúp xuất khẩu gạo tiếp tục vươn xa, viết nên chương mới về kỳ tích gạo Việt Nam.

Báo Quân đội nhân dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Xây dựng nông thôn hiện đại, sinh thái, văn minh

Xây dựng nông thôn hiện đại, sinh thái, văn minh

Sau hợp nhất, Lào Cai có diện tích tự nhiên hơn 13.000 km2, trong đó 87,5% là đất nông nghiệp. Toàn tỉnh có trên 1,67 triệu người, đa số sinh sống ở khu vực nông thôn miền núi, do đó, quan tâm nâng cao đời sống, thay đổi diện mạo nông thôn miền núi được tỉnh quan tâm đặc biệt.

Tiên Phong - điểm sáng thực hiện tiêu chí môi trường

Tiên Phong - điểm sáng thực hiện tiêu chí môi trường

Trong xây dựng nông thôn mới, tiêu chí môi trường là một trong những tiêu chí khó thực hiện, đòi hỏi sự thay đổi từ nhận thức đến hành động của mỗi người dân. Tại thôn Tiên Phong, xã Thác Bà với chủ trương đúng đắn của chi bộ thôn và sự đồng thuận của Nhân dân, tiêu chí “khó” này đã được triển khai hiệu quả, tạo nên những tuyến đường hoa rực rỡ và diện mạo nông thôn xanh - sạch - đẹp.

Trở về gieo những mầm xanh

Trở về gieo những mầm xanh

Giữa thung lũng Lùng Phình, tỉnh Lào Cai, những vườn dâu tây đang vào mùa chín đỏ. Không chỉ mang lại nguồn thu cho người trồng, mô hình này còn gắn với câu chuyện đẹp về khát vọng trở về quê hương lập nghiệp của người trẻ.

Lãnh đạo xã Hưng Khánh thăm mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng của gia đình chị Vàng Thị Khoa, thôn Khuôn Bổ (thứ 3, phải sang).

Đòn bẩy trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Khánh

Với mục tiêu nâng cao thu nhập của người dân, xây dựng xã nổi trội về sản xuất gắn với xây dựng nông thôn mới, xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai đã triển khai nhiều mô hình kinh tế hiệu quả như: trồng chè, tre Bát độ, quế, dược liệu… thực hiện chuỗi liên kết trong tiêu thụ sản phẩm thông qua Phong trào thi đua “Dân vận khéo”. 

Niềm vui trên cánh đồng ớt xanh xuất khẩu

Niềm vui trên cánh đồng ớt xanh xuất khẩu

Những ngày này, trên các cánh đồng của phường Cầu Thia, ớt xanh xuất khẩu đang bước vào vụ thu hoạch. Từ sáng sớm, bà con nông dân đã tất bật ra đồng thu hái, không khí lao động rộn ràng trên các thửa ruộng. Việc đưa cây ớt xanh vào sản xuất đã và đang mở ra hướng chuyển đổi cây trồng hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Nà Hẩu: Khi bảo vệ rừng trở thành sinh kế và trách nhiệm

Nà Hẩu: Khi bảo vệ rừng trở thành sinh kế và trách nhiệm

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu từ lâu được xem là một trong những “lá phổi xanh” quan trọng của vùng núi Tây Bắc. Với diện tích hơn 16.000 ha rừng tự nhiên, nơi đây lưu giữ hệ sinh thái phong phú với nhiều loài động, thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học, Nà Hẩu còn giữ vai trò đặc biệt trong bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu và duy trì cân bằng sinh thái cho cả một vùng rộng lớn.

Lào Cai dự Hội nghị tổng kết và triển khai nội dung phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Bộ Công an

Lào Cai dự Hội nghị tổng kết và triển khai nội dung phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Bộ Công an

Chiều 16/3, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an đã phối hợp tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tuyên truyền, đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Khi rừng trở thành “nguồn sống”

Khi rừng trở thành “nguồn sống”

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang từng bước khẳng định vai trò là công cụ kinh tế quan trọng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Lào Cai. Không chỉ tạo nguồn lực ổn định cho công tác giữ rừng, chính sách này còn mở ra hướng phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng cao, góp phần củng cố an ninh sinh thái và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp theo hướng xanh.

Cuộc cách mạng trên đất khó Púng Luông

Cuộc cách mạng trên đất khó Púng Luông

Từ những mảnh ruộng, triền đồi vốn chỉ quen với cây lúa một vụ năng suất thấp và cây ngô tự cung tự cấp, xã Púng Luông, tỉnh Lào Cai đang chứng kiến sự chuyển đổi mạnh mẽ trong tư duy và phương thức sản xuất. Việc hình thành các vùng chuyên canh hoa, rau màu và cây ăn quả ôn đới theo hướng hàng hóa không chỉ làm thay đổi diện mạo nông thôn mà còn trở thành đòn bẩy giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững, nâng cao vị thế nông sản vùng cao trên thị trường.

Lâm Giang nỗ lực giảm nghèo bền vững

Lâm Giang nỗ lực giảm nghèo bền vững

Nhờ sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước cùng ý chí vươn lên của người dân, công tác giảm nghèo ở xã Lâm Giang đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều gia đình mạnh dạn phát triển kinh tế, từng bước vươn lên thoát nghèo và ổn định cuộc sống.

Tầm nhìn cho nông nghiệp giá trị cao

Tầm nhìn cho nông nghiệp giá trị cao

Với lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu và nguồn gen cây dược liệu phong phú, Lào Cai đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển mình thành trung tâm dược liệu của cả nước. Nghị quyết số 48-NQ/TU về phát triển dược liệu chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050 chính là “chìa khóa” để cụ thể hóa tiềm năng thành giá trị kinh tế, tạo bước đột phá trong nông nghiệp hàng hóa và an sinh xã hội vùng cao.

Cần một quy trình đồng bộ để bảo vệ "sức khỏe" đất canh tác

Thu gom rác thải nhựa trên đồng ruộng: Cần một quy trình đồng bộ để bảo vệ "sức khỏe" đất canh tác

Sự chuyển dịch mạnh mẽ sang sản xuất hàng hóa tại tỉnh Lào Cai với những vùng chuyên canh quy mô lớn đã khẳng định vai trò "trụ đỡ" của nông nghiệp trong nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình thâm canh là lượng rác thải nhựa từ màng phủ nilon và bao gói thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đang gia tăng áp lực lớn lên môi trường đất và nước. 

Phong Dụ Thượng: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Phong Dụ Thượng: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Những năm gần đây, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xã Phong Dụ Thượng xác định nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm bền vững, tăng thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Từ thực tiễn địa phương, công tác đào tạo nghề từng bước gắn với nhu cầu thị trường lao động, điều kiện sản xuất và định hướng phát triển kinh tế của xã.

fb yt zl tw