Giá vàng hôm nay 5/8/2026 diễn biến trái chiều giữa các phân khúc. Vàng miếng SJC giữ giá mua 137,5 triệu đồng/lượng nhưng giảm giá bán còn 140,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng thế giới tăng lên 4.074 USD/ounce.
Giá vàng chiều 4/8: SJC đảo chiều đi lên, thị trường chờ tín hiệu từ Fed
Giá vàng chiều 4/8 ghi nhận diễn biến trái chiều so với đầu phiên khi vàng SJC tại nhiều doanh nghiệp đồng loạt tăng nhẹ. Trong khi đó, giá vàng thế giới nhích lên khi giới đầu tư theo dõi khả năng Mỹ - Iran nối lại đàm phán và chờ loạt dữ liệu quan trọng của thị trường lao động Mỹ.
Giá vàng trong nước phân hóa, chênh lệch mua – bán thu hẹp
Thị trường vàng trong nước sáng 5/8 ghi nhận sự phân hóa khá rõ giữa vàng miếng, vàng nhẫn và vàng trang sức.
Tại Công ty SJC, giá mua vàng miếng giữ nguyên ở mức 137,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán giảm 500.000 đồng, xuống còn 140,5 triệu đồng/lượng.
DOJI, PNJ và Phú Quý cũng giảm giá bán vàng miếng SJC 500.000 đồng/lượng nhưng không thay đổi chiều mua vào. Nhờ đó, khoảng cách mua – bán tại các doanh nghiệp này thu hẹp từ 3,5 triệu xuống còn 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh mạnh hơn, giảm 500.000 đồng ở chiều mua và giảm 1 triệu đồng ở chiều bán. Giá vàng miếng BTMC SJC xuống còn 137–140 triệu đồng/lượng.
Trong khi vàng miếng giảm giá bán, một số sản phẩm vàng nhẫn lại tăng. Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 137,5–141,5 triệu đồng/lượng. Nhẫn PNJ tăng nhẹ chiều mua nhưng giảm khá mạnh chiều bán.
Diễn biến trên cho thấy thị trường trong nước không hoàn toàn đi theo một hướng, dù giá vàng thế giới sáng 5/8 tăng 22 USD lên 4.074 USD/ounce.
Bảng giá vàng SJC ngày 5/8/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Khu vực | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua | Thay đổi bán |
|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 137,50 | 140,50 | Không đổi | Giảm 0,50 |
| Miền Bắc | 137,50 | 140,50 | Không đổi | Giảm 0,50 |
Giá vàng miếng SJC tại TP.HCM và khu vực miền Bắc cùng được niêm yết ở mức 137,5 triệu đồng/lượng mua vào và 140,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Khoảng cách giữa hai chiều giảm còn 3 triệu đồng/lượng, thấp hơn 500.000 đồng so với ngày 4/8.
Việc giảm giá bán nhưng giữ nguyên giá mua giúp cải thiện điều kiện giao dịch đối với người mua mới và người đang nắm giữ vàng. Tuy nhiên, mức chênh 3 triệu đồng/lượng vẫn tương đối cao nếu giao dịch trong thời gian ngắn.
So với ngày 1/8, khi giá bán SJC ở mức 141,9 triệu đồng/lượng, giá hiện đã giảm 1,4 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng DOJI ngày 5/8/2026
Đơn vị đã quy đổi: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi so với 4/8 |
| Vàng miếng SJC | 137,50 | 140,50 | Mua không đổi, bán giảm 0,50 |
| Kim TT/AVPL | 137,50 | 141,50 | Tăng 0,50 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 137,50 | 141,50 | Tăng 0,50 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 131,00 | 133,00 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 999 | 130,50 | 132,50 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 9999 | 135,00 | 140,00 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 999 | 134,50 | 139,50 | Không đổi |
| Vàng nữ trang 99 | 133,80 | 139,50 | Không đổi |
DOJI giữ giá mua vàng miếng SJC ở mức 137,5 triệu đồng/lượng nhưng giảm giá bán 500.000 đồng, còn 140,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua – bán vàng miếng giảm xuống 3 triệu đồng/lượng.
Trái lại, Kim TT/AVPL và nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng cùng tăng 500.000 đồng/lượng, lên mức 137,5–141,5 triệu đồng/lượng. Giá bán nhẫn DOJI hiện cao hơn vàng miếng SJC tại cùng doanh nghiệp 1 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch mua – bán của vàng nhẫn là 4 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng SJC 1 triệu đồng.
Vàng nguyên liệu và vàng nữ trang không thay đổi. Vàng nguyên liệu có khoảng cách mua – bán 2 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nữ trang chênh từ 5 triệu đến 5,7 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng PNJ ngày 5/8/2026
Đơn vị đã quy đổi: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua | Thay đổi bán |
| Vàng miếng SJC 999.9 | 137,50 | 140,50 | Không đổi | Giảm 0,50 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 136,20 | 140,20 | Tăng 0,10 | Giảm 0,70 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 136,20 | 140,20 | Tăng 0,10 | Giảm 0,70 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 136,20 | 140,20 | Tăng 0,10 | Giảm 0,70 |
| Vàng PNJ – Phượng Hoàng | 136,20 | 140,20 | Tăng 0,10 | Giảm 0,70 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 134,00 | 139,00 | Tăng 0,20 | |
| Vàng nữ trang 999 | 133,86 | 138,86 | Tăng 0,20 | |
| Vàng nữ trang 9920 | 131,69 | 137,89 | Tăng 0,20 | |
| Vàng nữ trang 99 | 131,41 | 137,61 | Tăng 0,20 |
PNJ giữ giá mua vàng miếng SJC ở mức 137,5 triệu đồng/lượng và giảm giá bán xuống 140,5 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua – bán thu hẹp còn 3 triệu đồng/lượng.
Nhóm nhẫn trơn, Kim Bảo, Phúc Lộc Tài và Phượng Hoàng có diễn biến đáng chú ý: giá mua tăng 100.000 đồng nhưng giá bán giảm 700.000 đồng/lượng.
Sau điều chỉnh, nhóm sản phẩm này được niêm yết ở mức 136,2–140,2 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua – bán giảm từ 4,8 triệu xuống còn 4 triệu đồng/lượng.
Vàng nữ trang tại PNJ tăng khoảng 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Chênh lệch mua – bán vẫn ở mức 5 triệu đồng đối với vàng 999.9 và 999, trong khi vàng 9920 và vàng 99 chênh 6,2 triệu đồng/lượng.
Bảng giá vàng Bảo Tín Minh Châu ngày 5/8/2026
Đơn vị: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua | Thay đổi bán |
| Vàng miếng BTMC SJC | 137,00 | 140,00 | Giảm 0,50 | Giảm 1,00 |
Bảo Tín Minh Châu là thương hiệu giảm giá vàng miếng mạnh nhất trong dữ liệu cập nhật sáng 5/8.
Giá mua vào giảm 500.000 đồng xuống 137 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán giảm 1 triệu đồng, xuống còn 140 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách giữa hai chiều cũng giảm từ 3,5 triệu xuống còn 3 triệu đồng/lượng.
So với mức giá phổ biến tại SJC, DOJI, PNJ và Phú Quý, vàng miếng BTMC SJC hiện thấp hơn 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán.
Bảng giá vàng Phú Quý ngày 5/8/2026
Đơn vị đã quy đổi và làm tròn: triệu đồng/lượng
| Sản phẩm | Mua vào | Bán ra | Thay đổi mua | Thay đổi bán |
| Vàng miếng SJC | 137,50 | 140,50 | Không đổi | Giảm 0,50 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 137,50 | 140,50 | Không đổi | Giảm 0,50 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 137,50 | 140,50 | Không đổi | Giảm 0,50 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 137,40 | 140,40 | Không đổi | Giảm 0,50 |
| Vàng trang sức 999.9 | 135,00 | 139,50 | Tăng 1,00 | Giảm 0,50 |
| Vàng trang sức 999 | 134,90 | 139,40 | Tăng 1,00 | Giảm 0,50 |
| Vàng trang sức 99 | 133,65 | 138,11 | Tăng khoảng 0,99 | Giảm khoảng 0,50 |
Phú Quý giữ nguyên giá mua vàng miếng và vàng nhẫn nhưng giảm giá bán 500.000 đồng/lượng.
Vàng miếng SJC và nhẫn tròn Phú Quý 999.9 cùng được niêm yết ở mức 137,5–140,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua – bán giảm còn 3 triệu đồng/lượng.
Vàng trang sức có biến động mạnh ở hai chiều ngược nhau. Giá mua tăng khoảng 1 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán giảm khoảng 500.000 đồng.
Nhờ đó, khoảng cách mua – bán vàng trang sức 999.9 và 999 giảm từ 6 triệu xuống còn 4,5 triệu đồng/lượng. Vàng trang sức 99 có mức chênh khoảng 4,46 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới tăng lên 4.074 USD/ounce
Theo dữ liệu cập nhật sáng 5/8, giá vàng thế giới đứng ở mức 4.074 USD/ounce, tăng 22 USD so với mức 4.052 USD/ounce của ngày 4/8.
Mức tăng tương đương khoảng 0,54%. Trong phiên, giá vàng dao động từ 4.069–4.086 USD/ounce.
| Chỉ tiêu | Ngày 5/8 | Ngày 4/8 | Thay đổi |
| Giá vàng thế giới | 4.074 USD/ounce | 4.052 USD/ounce | Tăng 22 USD |
| Tỷ lệ thay đổi | Tăng khoảng 0,54% | ||
| Biên độ ngày | 4.069–4.086 USD/ounce | 4.049–4.055 USD/ounce | Dịch chuyển lên vùng cao hơn |
Trong phiên quốc tế gần nhất, vàng có lúc tăng khoảng 1%, đạt 4.086,36 USD/ounce. Kim loại quý được hỗ trợ khi giá dầu giảm mạnh, qua đó làm dịu lo ngại lạm phát và giảm kỳ vọng Fed phải tiếp tục tăng lãi suất.
Dầu Brent giảm xuống khoảng 79,36 USD/thùng, còn dầu WTI xuống 75,77 USD/thùng do thị trường kỳ vọng tiến triển ngoại giao liên quan đến Iran. Lợi suất trái phiếu Mỹ cũng giảm; lợi suất kỳ hạn hai năm lùi về vùng thấp nhất kể từ ngày 20/7.
Những yếu tố này giúp giảm chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng, nhưng đà tăng vẫn bị hạn chế bởi tâm lý tích cực trên thị trường chứng khoán và nhu cầu trú ẩn suy yếu khi hy vọng về một thỏa thuận Trung Đông gia tăng.
Thị trường chờ dữ liệu việc làm Mỹ
Sau cuộc họp cuối tháng 7, Fed vẫn duy trì vùng lãi suất 3,5–3,75%. Giới đầu tư hiện tập trung vào loạt dữ liệu việc làm Mỹ để đánh giá khả năng ngân hàng trung ương điều chỉnh chính sách tại cuộc họp tháng 9.
Báo cáo việc làm khu vực tư nhân ADP dự kiến được công bố trong ngày 5/8, còn báo cáo việc làm phi nông nghiệp sẽ xuất hiện vào cuối tuần. Các số liệu này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đồng USD, lợi suất trái phiếu và giá vàng.
Nếu thị trường lao động suy yếu hơn dự kiến, khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất có thể giảm, qua đó hỗ trợ vàng. Ngược lại, dữ liệu việc làm mạnh có thể đẩy đồng USD và lợi suất đi lên, gây áp lực lên kim loại quý.
Giá dầu giảm cũng làm thay đổi kỳ vọng chính sách. Xác suất thị trường đặt cược vào một đợt tăng lãi suất trong tháng 9 đã giảm từ khoảng 67,2% xuống 56,9% trong phiên gần nhất.
Tuy nhiên, Fed chưa hoàn toàn loại bỏ phương án thắt chặt. Chủ tịch Fed Philadelphia Anna Paulson cho biết ưu tiên cao nhất vẫn là đưa lạm phát về 2% trong khi duy trì việc làm đầy đủ, đồng thời tiếp tục theo dõi dữ liệu trước khi quyết định chính sách.
Giá vàng thế giới quy đổi khoảng 130,07 triệu đồng/lượng
Tỷ giá bán USD tại Vietcombank cập nhật gần nhất trong ngày 4/8 là 26.480 đồng/USD.
Với giá vàng thế giới ở mức 4.074 USD/ounce, giá quốc tế quy đổi tương đương khoảng:
130,07 triệu đồng/lượng.
| Giá vàng thế giới | Giá quy đổi |
| 4.069 USD/ounce | Khoảng 129,91 triệu đồng/lượng |
| 4.074 USD/ounce | Khoảng 130,07 triệu đồng/lượng |
| 4.086 USD/ounce | Khoảng 130,45 triệu đồng/lượng |
Mức quy đổi trên chưa bao gồm thuế, phí, vận chuyển, bảo hiểm, gia công và các chi phí kinh doanh khác.
So với giá bán vàng miếng SJC 140,5 triệu đồng/lượng, vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới quy đổi khoảng:
10,43 triệu đồng/lượng, tương đương khoảng 8,02%.
| Loại giá | Mức giá |
| Vàng thế giới quy đổi | Khoảng 130,07 triệu đồng/lượng |
| Giá mua vàng miếng SJC | 137,50 triệu đồng/lượng |
| Giá bán vàng miếng SJC | 140,50 triệu đồng/lượng |
| SJC bán ra cao hơn thế giới | Khoảng 10,43 triệu đồng/lượng |
Với mức giá 4.052 USD/ounce của ngày 4/8, vàng thế giới quy đổi khoảng 129,36 triệu đồng/lượng.
Như vậy, giá thế giới đã tăng tương đương khoảng 700.000 đồng/lượng, trong khi giá bán SJC giảm 500.000 đồng. Khoảng cách giữa hai thị trường vì thế thu hẹp khoảng 1,2 triệu đồng/lượng.
Vì sao SJC giảm giá bán khi vàng thế giới tăng?
Diễn biến trái chiều có thể xuất phát từ một số yếu tố.
Thứ nhất, giá trong nước vẫn cao hơn thế giới quy đổi hơn 10 triệu đồng/lượng. Khoảng chênh này cho phép các doanh nghiệp hạ giá bán để điều chỉnh mặt bằng mà không cần phản ứng hoàn toàn theo mức tăng quốc tế.
Thứ hai, việc giữ hoặc nâng giá mua nhưng giảm giá bán cho thấy nhiều doanh nghiệp đang ưu tiên thu hẹp khoảng cách giao dịch. Đây có thể là tín hiệu cạnh tranh nguồn hàng và cải thiện thanh khoản, thay vì một đợt giảm giá toàn diện.
Thứ ba, vàng thế giới mới phục hồi 22 USD sau một số phiên giằng co. Các doanh nghiệp có thể chờ giá vượt rõ ràng vùng 4.090–4.100 USD/ounce trước khi nâng giá bán.
Thứ tư, từng phân khúc đang có cung – cầu khác nhau. Trong khi vàng miếng giảm giá bán, nhẫn DOJI tăng 500.000 đồng/lượng và vàng trang sức PNJ tăng 200.000 đồng/lượng.
Dự báo giá vàng thế giới ngày 5/8/2026
Giá vàng đang tiến gần vùng 4.080–4.090 USD/ounce. Xu hướng ngắn hạn nghiêng về phục hồi nhưng thị trường có thể biến động mạnh khi dữ liệu việc làm Mỹ được công bố.
Kịch bản cơ sở
Nếu dữ liệu việc làm không tạo bất ngờ lớn, đồng USD và lợi suất trái phiếu duy trì ổn định, vàng có thể dao động trong vùng:
4.040–4.110 USD/ounce.
Mốc 4.070–4.080 USD/ounce có thể đóng vai trò vùng cân bằng ngắn hạn.
Kịch bản tăng
Nếu dữ liệu việc làm yếu hơn dự kiến, lợi suất trái phiếu tiếp tục giảm và thị trường giảm khả năng Fed tăng lãi suất, vàng có thể vượt 4.110 USD và hướng tới:
4.130–4.160 USD/ounce.
Việc vượt rõ ràng vùng 4.086–4.100 USD sẽ giúp cải thiện tâm lý và kích hoạt thêm lực mua kỹ thuật.
Kịch bản giảm
Nếu dữ liệu việc làm Mỹ mạnh, đồng USD phục hồi hoặc kỳ vọng Fed thắt chặt tăng trở lại, giá vàng có thể lùi về:
4.000–4.040 USD/ounce.
Nếu mất mốc 4.000 USD, hoạt động bán kỹ thuật có thể khiến giá kiểm tra lại vùng 3.960–3.980 USD/ounce.
Dự báo giá vàng trong nước ngày 5/8/2026
Sau khi giảm giá bán và thu hẹp chênh lệch giao dịch, vàng miếng SJC có thể tiếp tục giằng co trong phần còn lại của ngày.
Kịch bản cơ sở, vàng miếng SJC có thể dao động quanh:
- Mua vào: 137–138,5 triệu đồng/lượng.
- Bán ra: 140–141,5 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn 9999 có thể dao động quanh:
- Mua vào: 136–138,5 triệu đồng/lượng.
- Bán ra: 140–142 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới vượt 4.110 USD/ounce, giá trong nước có thể tăng thêm từ 300.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu vàng quốc tế giảm dưới 4.040 USD/ounce, giá vàng miếng có thể giảm thêm từ 300.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Do khoảng cách SJC–thế giới đã thu hẹp còn khoảng 10,43 triệu đồng/lượng, giá trong nước có thể phản ứng sát hơn nếu vàng quốc tế biến động mạnh sau dữ liệu việc làm Mỹ.
Người mua vàng cần lưu ý điều gì?
Việc khoảng cách mua – bán vàng miếng giảm còn 3 triệu đồng/lượng là tín hiệu tích cực so với mức 4–5 triệu đồng từng xuất hiện trong tháng 7.
Tuy nhiên, chênh lệch vẫn chưa thấp. Người mua ngắn hạn vẫn có thể chịu lỗ ngay sau giao dịch nếu giá không tăng đủ để bù khoảng cách giữa hai chiều.
Nhẫn DOJI chênh 4 triệu đồng/lượng, nhẫn PNJ cũng chênh 4 triệu đồng. Một số sản phẩm vàng nữ trang có khoảng cách từ 4,5 triệu đến hơn 6 triệu đồng/lượng.
Người mua tích lũy dài hạn nên cân nhắc chia nhỏ số tiền và giao dịch tại nhiều thời điểm. Cần so sánh giá doanh nghiệp mua lại, chính sách thu đổi và mức chênh giữa các sản phẩm, thay vì chỉ quan tâm đến giá bán.
Nhìn chung, giá vàng ngày 5/8/2026 được dự báo tiếp tục giằng co theo hướng tích cực. Giá thế giới có khả năng thử thách vùng 4.100 USD/ounce, trong khi vàng SJC nhiều khả năng dao động quanh 140–141,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.