Thị trường vàng sáng 17/9 xuất hiện diễn biến khá đặc biệt: giá trong nước tăng mạnh trong khi vàng quốc tế vẫn chịu sức ép sau quyết định nâng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.
Giá vàng hôm nay 16/9: Vàng thế giới đi xuống, SJC có giảm tiếp sau Fed?
Giá vàng SJC sáng 16/9/2026 giảm thêm 300.000 đồng/lượng xuống 145,3 triệu đồng, trong khi vàng thế giới lùi về 4.284 USD/ounce. Thị trường chờ quyết định lãi suất Fed rạng sáng 17/9.
Vàng miếng SJC tại TP.HCM và miền Bắc được niêm yết 143,5 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
So với ngày 16/9, cả hai chiều cùng tăng: 1,2 triệu đồng/lượng.
| Khu vực | Mua 17/9 | Bán 17/9 | Mua 16/9 | Bán 16/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| TP.HCM | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 | +1,20/+1,20 |
| Miền Bắc | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 | +1,20/+1,20 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Đây là nhịp hồi mạnh nhất của SJC trong vài phiên gần đây.
Dù vậy, giá bán hiện vẫn thấp hơn mức 150,6 triệu đồng/lượng ngày 26/8 khoảng: 4,1 triệu đồng/lượng.
Việc SJC tăng mạnh trong khi vàng thế giới chưa phục hồi tương ứng khiến chênh lệch giữa thị trường trong nước và quốc tế lại nới rộng.
DOJI: Vàng miếng tăng 1,2 triệu, nhẫn 9999 tăng 500.000 đồng
| Sản phẩm DOJI | Mua 17/9 | Bán 17/9 | Mua 16/9 | Bán 16/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 | +1,20 |
| Kim TT/AVPL | 143,00 | 147,00 | 142,50 | 146,50 | +0,50 |
| Nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng | 143,00 | 147,00 | 142,50 | 146,50 | +0,50 |
| Vàng nguyên liệu 9999 | 137,50 | 139,50 | 137,50 | 139,50 | Không đổi |
| Vàng nguyên liệu 999 | 137,00 | 139,00 | 137,00 | 139,00 | Không đổi |
| Nữ trang 9999 | 141,70 | 145,70 | 141,70 | 145,70 | Không đổi |
| Nữ trang 999 | 141,20 | 145,20 | 141,20 | 145,20 | Không đổi |
| Nữ trang 99 | 139,30 | 144,00 | 139,30 | 144,00 | Không đổi |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Điểm đáng chú ý là mức tăng không đồng đều giữa các nhóm sản phẩm.
Vàng miếng tăng tới 1,2 triệu đồng/lượng, trong khi nhẫn tròn 9999 chỉ tăng 500.000 đồng.
Nhẫn DOJI hiện bán ở 147 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng cùng hệ thống 500.000 đồng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn vẫn rất rộng:
4 triệu đồng/lượng.
PNJ: Vàng miếng và nhẫn đồng loạt lên 146,5 triệu đồng
| Sản phẩm PNJ | Mua 17/9 | Bán 17/9 | Mua 16/9 | Bán 16/9 |
|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC 999.9 | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 |
| PNJ - Phượng Hoàng | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 |
| Vàng nữ trang 999.9 | 140,50 | 145,50 | 139,50 | 144,50 |
| Vàng nữ trang 999 | 140,35 | 145,35 | 139,36 | 144,36 |
| Vàng nữ trang 9920 | 138,14 | 144,34 | 137,14 | 143,34 |
| Vàng nữ trang 99 | 137,85 | 144,05 | 136,86 | 143,06 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Vàng miếng và nhẫn trơn PNJ cùng tăng khoảng 1,2 triệu đồng/lượng và hiện ngang giá nhau ở:
143,5 - 146,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán nhẫn là 3 triệu đồng/lượng, thấp hơn DOJI khoảng 1 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu tăng mạnh chiều bán
| Sản phẩm | Mua 17/9 | Bán 17/9 | Mua 16/9 | Bán 16/9 | Thay đổi |
|---|---|---|---|---|---|
| BTMC SJC | 143,00 | 146,50 | 142,30 | 145,30 | +0,70/+1,20 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu tăng 700.000 đồng/lượng ở chiều mua nhưng tăng tới 1,2 triệu đồng ở chiều bán.
Điều này khiến khoảng cách mua - bán nới lên:
3,5 triệu đồng/lượng.
Phú Quý: Nhẫn 999.9 tăng lên 146,9 triệu đồng/lượng
| Sản phẩm Phú Quý | Mua 17/9 | Bán 17/9 | Mua 16/9 | Bán 16/9 |
|---|---|---|---|---|
| Vàng miếng SJC | 143,50 | 146,50 | 142,30 | 145,30 |
| Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 | 143,50 | 146,90 | 142,30 | 145,70 |
| Phú Quý 1 lượng 999.9 | 143,50 | 146,90 | 142,30 | 145,70 |
| Phú Quý 1 lượng 99.9 | 143,40 | 146,80 | 142,20 | 145,60 |
| Vàng trang sức 999.9 | 141,00 | 146,00 | 140,00 | 145,00 |
| Vàng trang sức 999 | 140,90 | 145,90 | 139,90 | 144,90 |
| Vàng trang sức 99 | 139,59 | 144,54 | 138,60 | 143,55 |
Đơn vị: triệu đồng/lượng, số liệu làm tròn.
Vàng miếng và vàng nhẫn Phú Quý đều tăng khoảng 1,2 triệu đồng/lượng.
Nhẫn 999.9 hiện bán ở 146,9 triệu đồng/lượng, cao hơn SJC cùng hệ thống khoảng 400.000 đồng.
Khoảng cách mua - bán ở mức 3,4 triệu đồng/lượng.
Vàng thế giới giảm tiếp sau quyết định tăng lãi suất của Fed
Theo dữ liệu cập nhật sáng 17/9:
| Chỉ tiêu | 17/9/2026 | 16/9/2026 |
|---|---|---|
| Giá vàng | 4.269 | 4.284 |
| Thấp nhất | 4.258 | 4.281 |
| Cao nhất | 4.276 | 4.299 |
| Thay đổi | -15 USD | |
| Tỷ lệ | khoảng -0,35% |
Đơn vị: USD/ounce.
Con số 4.269 USD/ounce cho thấy vàng vẫn chưa lấy lại được mốc 4.300 USD.
Đáng chú ý, biến động trong đêm lớn hơn rất nhiều so với mức giảm 15 USD giữa hai mốc cập nhật.
Ngay sau quyết định của Fed, vàng giao ngay từng tăng trên 4.365 USD/ounce nhưng sau đó đảo chiều mạnh, rơi xuống khoảng 4.240 USD/ounce, giảm hơn 1% trong phiên.
Như vậy, mức 4.269 USD sáng nay có thể xem là một nhịp hồi nhất định sau cú bán tháo hậu Fed, nhưng chưa đủ để xác nhận vàng đã tạo đáy.
Fed chính thức nâng lãi suất lên 3,75-4%
Fed đã quyết định tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa vùng mục tiêu lên:
3,75 - 4,00%.
Quyết định được thông qua với tỷ lệ 12-0.
Fed cho biết hoạt động kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng ở tốc độ vững chắc, chi tiêu trong nước bền bỉ, năng suất và đầu tư vốn duy trì mạnh, trong khi lạm phát vẫn ở mức cao.
Đây là lần tăng lãi suất đầu tiên của Fed trong hơn ba năm.
Với vàng, bản thân việc tăng 0,25 điểm phần trăm không phải bất ngờ lớn bởi thị trường đã gần như định giá trước.
Điểm gây sức ép mạnh hơn nằm ở thông điệp:
chu kỳ tăng lãi suất có thể chưa kết thúc.
“Dot plot” cho thấy Fed có thể còn tăng thêm
Dự báo mới của các thành viên FOMC cho thấy mức lãi suất Fed Funds trung vị vào cuối năm 2026 là:
4,1%.
Trong khi sau cuộc họp hiện tại, điểm giữa vùng lãi suất là:
3,875%.
Điều đó hàm ý dự báo trung vị của Fed vẫn nghiêng về ít nhất một lần tăng thêm 0,25 điểm phần trăm trước cuối năm.
Đáng chú ý, 12 thành viên dự báo lãi suất cuối năm quanh 4,125%, còn 4 người dự báo khoảng 4,375%.
Đây chính là phần khiến thị trường nhìn quyết định lần này theo hướng “diều hâu” hơn.
Sau cuộc họp, thị trường lãi suất đã định giá hơn 25 điểm cơ bản thắt chặt bổ sung trước cuối năm, trong khi cuộc họp kế tiếp được đánh giá gần như cân bằng giữa tăng hoặc giữ nguyên.
Fed nâng dự báo lạm phát, kinh tế vẫn khá khỏe
Bộ dự báo mới cũng chứa nhiều thông tin không thuận lợi cho vàng.
Fed nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 lên:
2,3%,
từ mức 2,2% trong tháng 6.
Tỷ lệ thất nghiệp dự kiến:
4,1%,
thấp hơn mức dự báo 4,3% trước đó.
Trong khi đó, PCE inflation năm 2026 được dự báo:
3,7%,
cao hơn mức 3,6% hồi tháng 6.
Core PCE inflation dự báo:
3,4%,
so với 3,3% trước đây.
Bức tranh này cho thấy nền kinh tế Mỹ vẫn khá khỏe trong khi lạm phát chưa giảm đủ nhanh.
Đó chính là môi trường khiến Fed có dư địa duy trì chính sách tiền tệ chặt hơn.
USD vượt mốc 100, vàng chịu thêm sức ép
Phản ứng đáng chú ý sau cuộc họp Fed là đồng USD tăng mạnh.
Dollar Index vượt mốc:
100 điểm,
lên cao nhất kể từ cuối tháng 7.
Đồng bạc xanh cũng có chuỗi tăng sáu phiên liên tiếp.
USD mạnh thường gây bất lợi với vàng vì khiến kim loại quý trở nên đắt hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác.
Đây là lý do vàng giảm mạnh dù quyết định tăng lãi suất của Fed đã được thị trường dự báo gần như hoàn toàn.
Lợi suất trái phiếu ngắn hạn tăng, đường cong lợi suất phẳng mạnh
Sau Fed, lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn ngắn tăng trong khi lợi suất dài hạn hạ xuống, làm đường cong lợi suất phẳng đáng kể.
Chênh lệch lợi suất 2 năm - 30 năm giảm xuống khoảng 61 điểm cơ bản, mức thấp nhất kể từ tháng 3/2025.
Diễn biến này phản ánh kỳ vọng rằng Fed có thể tiếp tục thắt chặt trong ngắn hạn nhưng chính sách lãi suất cao cuối cùng sẽ làm chậm tăng trưởng.
Đối với vàng, thời gian đầu sau một quyết định như vậy thường bất lợi vì lãi suất ngắn hạn và USD tăng.
Nhưng nếu thị trường bắt đầu lo tăng trưởng chậm lại, nhu cầu trú ẩn có thể quay trở lại về sau.
Giá dầu giảm nhưng rủi ro Hormuz chưa biến mất
Một yếu tố khác đang tạm giảm áp lực lạm phát là giá dầu.
Brent kết thúc phiên 16/9 giảm 2,7% xuống:
105,83 USD/thùng.
WTI giảm 3,2%, còn:
102,43 USD/thùng.
Nguyên nhân chính là Saudi Arabia bắt đầu cung cấp thêm dầu cho khách hàng châu Á thông qua hình thức chuyển tàu ngoài khơi Oman, giúp giảm bớt lo ngại sau các vụ tấn công vào tuyến ống Đông - Tây.
Tuy nhiên, rủi ro địa chính trị chưa thực sự hạ nhiệt.
Số tàu nhìn thấy đi qua eo biển Hormuz trong ngày thứ Ba chỉ còn 4 tàu, so với mức trung bình 10 ngày khoảng 18 tàu.
Điều đó có nghĩa giá dầu hoàn toàn có thể bật tăng trở lại nếu tình hình an ninh xấu đi.
Với vàng, đây vẫn là nguồn hỗ trợ trú ẩn quan trọng.
Vàng thế giới quy đổi khoảng 134,7 triệu đồng/lượng
Tỷ giá USD/VND ngày 17/9 tại Vietcombank được ghi nhận:
25.770 đồng/USD mua tiền mặt;
25.800 đồng/USD mua chuyển khoản;
26.180 đồng/USD bán ra.
Sử dụng giá bán 26.180 đồng/USD và giá vàng thế giới 4.269 USD/ounce:
4.269 × 26.180 × 37,5 / 31,1034768
tương đương khoảng:
134,75 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
134,7 - 134,8 triệu đồng/lượng.
Mức trên chưa bao gồm thuế, phí, gia công và các chi phí kinh doanh.
Trong khi đó SJC đang bán:
146,5 triệu đồng/lượng.
Khoảng chênh tương ứng:
11,75 triệu đồng/lượng.
Có thể làm tròn:
khoảng 11,8 triệu đồng/lượng.
Đây là mức chênh rất lớn.
Ngày 16/9, khoảng cách chỉ quanh 10 triệu đồng/lượng. Sáng nay SJC tăng mạnh trong khi vàng quốc tế lại giảm nên phần chênh đã nới thêm đáng kể.
Vì sao SJC tăng mạnh khi vàng thế giới giảm?
Đây là câu hỏi đáng chú ý nhất sáng 17/9.
Nếu chỉ nhìn diễn biến quốc tế, việc SJC tăng 1,2 triệu đồng/lượng dường như khá trái chiều.
Có thể nhìn ở ba khía cạnh.
Thứ nhất, giá trong nước thường không phản ánh từng nhịp biến động của vàng thế giới theo tỷ lệ 1:1, đặc biệt ở thời điểm quốc tế biến động rất mạnh chỉ trong vài giờ.
Thứ hai, bảng giá sáng nay có thể phản ánh điều chỉnh cung - cầu và chính sách mua bán của từng doanh nghiệp sau chuỗi giảm nhiều phiên.
Thứ ba, vàng quốc tế đã rơi xuống khoảng 4.240 USD ngay sau Fed rồi phục hồi lên vùng 4.260-4.270 USD vào đầu phiên châu Á. Doanh nghiệp trong nước có thể đang phản ánh một phần nhịp phục hồi này thay vì chỉ so sánh hai mốc đóng - mở ngày.
Tuy nhiên, hệ quả là khoảng cách SJC - thế giới đã tăng lên gần 12 triệu đồng/lượng.
Đây là yếu tố người mua cần đặc biệt chú ý.
Dự báo giá vàng thế giới 17/9/2026
Sau Fed, thị trường cần thời gian để hấp thụ toàn bộ thông điệp về lãi suất.
Kịch bản cơ sở trong ngày:
4.220 - 4.330 USD/ounce.
Vùng hỗ trợ
4.240 - 4.260 USD là vùng hỗ trợ gần.
Đây cũng là khu vực vàng đã tìm thấy lực mua sau cú giảm mạnh hậu Fed.
Nếu vùng này giữ được, giá có thể tiếp tục dao động quanh 4.260-4.300 USD.
Hỗ trợ sâu hơn:
4.200 - 4.220 USD.
Vùng kháng cự
Kháng cự đầu tiên:
4.300 - 4.320 USD.
Nếu lấy lại được vùng này, vàng có thể thử:
4.350 - 4.365 USD.
Đây chính là vùng đỉnh xuất hiện trước khi giá đảo chiều sau quyết định Fed.
Kịch bản tích cực
Nếu USD hạ nhiệt và thị trường cho rằng một lần tăng lãi suất tiếp theo đã được phản ánh phần lớn vào giá, vàng có thể phục hồi trên:
4.300 USD.
Khi đó mục tiêu:
4.330 - 4.350 USD;
xa hơn:
4.365 - 4.400 USD.
Kịch bản tiêu cực
Nếu USD tiếp tục giữ trên 100 điểm và kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm trong tháng 10 hoặc tháng 12 mạnh lên, vàng có thể thủng:
4.240 USD.
Mục tiêu tiếp theo:
4.200 - 4.220 USD.
Nếu cả 4.200 USD không giữ được, vùng:
4.150 - 4.180 USD
có thể trở thành khu vực hỗ trợ tiếp theo.
Dự báo giá vàng trong nước 17/9/2026
SJC hiện ở:
143,5 - 146,5 triệu đồng/lượng.
Kịch bản cơ sở:
142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá bán có thể chủ yếu dao động trong vùng:
145,5 - 146,8 triệu đồng/lượng.
Nếu vàng thế giới phục hồi trên 4.320-4.350 USD, giá SJC có khả năng thử lại:
147 - 148 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, nếu vàng quốc tế giảm xuống dưới 4.240 USD, giá bán SJC có thể chịu áp lực điều chỉnh về:
144,5 - 145,5 triệu đồng/lượng.
Đặc biệt, khoảng cách gần 12 triệu đồng/lượng với thế giới khiến dư địa giảm của thị trường trong nước trở nên đáng chú ý hơn nếu vàng quốc tế tiếp tục đi xuống.
Có nên mua vàng sau Fed?
Điểm tích cực là giá thế giới đã trải qua một đợt bán khá mạnh và xuất hiện lực mua quanh 4.240 USD.
Nhưng rủi ro ngắn hạn vẫn còn lớn.
Fed vừa tăng lãi suất lên 3,75-4%.
Dự báo trung vị cho thấy Fed Funds có thể lên khoảng 4,1% cuối năm.
USD đã vượt 100 điểm.
Thị trường vẫn định giá thêm hơn 25 điểm cơ bản thắt chặt trước cuối năm.
Trong nước, SJC còn có thêm một rủi ro riêng:
giá cao hơn thế giới quy đổi khoảng 11,8 triệu đồng/lượng.
Khoảng cách mua - bán cũng vẫn lớn:
SJC: 3 triệu đồng/lượng.
PNJ nhẫn: 3 triệu đồng/lượng.
Phú Quý nhẫn: 3,4 triệu đồng/lượng.
DOJI nhẫn: 4 triệu đồng/lượng.
Vì vậy, giao dịch ngắn hạn tiếp tục cần tính rất kỹ cả mức chênh với thế giới lẫn mức giá doanh nghiệp mua lại.
Kết luận dự báo
Giá vàng ngày 17/9/2026 đang cho thấy hai xu hướng trái chiều.
Trong nước, SJC bật tăng 1,2 triệu đồng/lượng lên 146,5 triệu đồng; nhẫn DOJI tăng lên 147 triệu đồng, PNJ lên 146,5 triệu đồng và Phú Quý lên 146,9 triệu đồng.
Trên thế giới, vàng lại xuống khoảng 4.269 USD/ounce sau một phiên biến động đặc biệt mạnh.
Fed đã chính thức nâng lãi suất 0,25 điểm phần trăm lên 3,75-4%, đồng thời các dự báo mới cho thấy lãi suất cuối năm ở mức trung vị 4,1%, hàm ý chu kỳ tăng lãi suất có thể chưa kết thúc.
Ngay sau Fed, vàng từng rơi xuống khoảng 4.240 USD trước khi phục hồi. USD đồng thời tăng lên trên 100 điểm, mức cao nhất kể từ cuối tháng 7.
Trong ngắn hạn, vùng 4.240-4.260 USD là hỗ trợ quan trọng. Nếu giữ được, vàng có khả năng phục hồi thử lại 4.300-4.350 USD. Nếu bị xuyên thủng, vùng 4.200 USD sẽ trở thành mục tiêu tiếp theo.
Đối với thị trường trong nước, yếu tố cần thận trọng nhất không phải việc SJC tăng 1,2 triệu đồng sáng nay, mà là khoảng cách với giá quốc tế đã nới lên khoảng 11,8 triệu đồng/lượng.
Đó là một mức chênh đủ lớn để thị trường trong nước có thể xuất hiện những đợt điều chỉnh mạnh nếu vàng thế giới chưa sớm lấy lại mốc 4.300 USD.