Thị trường lợn hơi ngày 16/9 chưa xuất hiện biến động mới. Theo bảng giá cập nhật, toàn bộ 34 địa phương khảo sát giữ nguyên mức thu mua, cho thấy thị trường đang tiếp tục duy trì trạng thái cân bằng.
Giá lợn hơi hôm nay 15/9: 34 địa phương đồng loạt giữ giá
Giá lợn hơi hôm nay 15/9/2026 tiếp tục ổn định trên cả ba miền, dao động từ 57.000 - 59.000 đồng/kg. Miền Bắc vẫn giữ mặt bằng cao nhất, trong khi mốc 60.000 đồng/kg chưa trở lại.
Miền Bắc phổ biến ở mức 59.000 đồng/kg, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam tập trung chủ yếu quanh vùng 57.000–58.000 đồng/kg.
Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất cả nước hiện chỉ 2.000 đồng/kg. Mốc 60.000 đồng/kg chưa xuất hiện trở lại trong bảng giá.
Giá lợn hơi miền Bắc: 11 địa phương cùng đạt 59.000 đồng/kg
Thị trường miền Bắc ngày 16/9 tiếp tục dao động trong khoảng 58.000–59.000 đồng/kg.
Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La và Hưng Yên cùng đứng ở mức 59.000 đồng/kg.
Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai và Điện Biên tiếp tục giao dịch tại mức 58.000 đồng/kg.
| Địa phương | Giá lợn hơi |
|---|---|
| Tuyên Quang | 59.000 đồng/kg |
| Cao Bằng | 58.000 đồng/kg |
| Thái Nguyên | 59.000 đồng/kg |
| Lạng Sơn | 58.000 đồng/kg |
| Quảng Ninh | 59.000 đồng/kg |
| Bắc Ninh | 59.000 đồng/kg |
| Hà Nội | 59.000 đồng/kg |
| Hải Phòng | 59.000 đồng/kg |
| Ninh Bình | 59.000 đồng/kg |
| Lào Cai | 58.000 đồng/kg |
| Lai Châu | 59.000 đồng/kg |
| Điện Biên | 58.000 đồng/kg |
| Phú Thọ | 59.000 đồng/kg |
| Sơn La | 59.000 đồng/kg |
| Hưng Yên | 59.000 đồng/kg |
Như vậy, 11/15 địa phương khảo sát tại miền Bắc cùng giữ mức 59.000 đồng/kg. Chỉ 4 địa phương còn ở mức 58.000 đồng/kg.
Biên độ giữa nơi cao nhất và thấp nhất trong khu vực chỉ 1.000 đồng/kg, cho thấy mặt bằng thu mua đang khá đồng đều.
Giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên ổn định ở 57.000–58.000 đồng/kg
Tại miền Trung - Tây Nguyên, thị trường ngày 16/9 tiếp tục không ghi nhận điều chỉnh mới.
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg.
Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa giao dịch tại mức 57.000 đồng/kg.
| Địa phương | Giá lợn hơi |
|---|---|
| Thanh Hóa | 58.000 đồng/kg |
| Nghệ An | 58.000 đồng/kg |
| Hà Tĩnh | 58.000 đồng/kg |
| Quảng Trị | 58.000 đồng/kg |
| Huế | 57.000 đồng/kg |
| Đà Nẵng | 57.000 đồng/kg |
| Quảng Ngãi | 57.000 đồng/kg |
| Gia Lai | 57.000 đồng/kg |
| Đắk Lắk | 57.000 đồng/kg |
| Khánh Hòa | 57.000 đồng/kg |
| Lâm Đồng | 58.000 đồng/kg |
Khu vực hiện có 5 địa phương đứng tại mức 58.000 đồng/kg và 6 địa phương ở mức 57.000 đồng/kg.
Giá tại miền Trung - Tây Nguyên tiếp tục có biên độ hẹp, chưa xuất hiện tín hiệu tăng hoặc giảm rõ rệt.
Giá lợn hơi miền Nam: 7/8 địa phương cùng mức 58.000 đồng/kg
Thị trường miền Nam tiếp tục là khu vực có giá tập trung rõ nhất.
Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP.HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng được thu mua ở mức 58.000 đồng/kg.
Cà Mau là địa phương duy nhất trong khu vực đứng tại mức 57.000 đồng/kg.
| Địa phương | Giá lợn hơi |
|---|---|
| Đồng Nai | 58.000 đồng/kg |
| Tây Ninh | 58.000 đồng/kg |
| Đồng Tháp | 58.000 đồng/kg |
| An Giang | 58.000 đồng/kg |
| Cà Mau | 57.000 đồng/kg |
| TP.HCM | 58.000 đồng/kg |
| Vĩnh Long | 58.000 đồng/kg |
| Cần Thơ | 58.000 đồng/kg |
Với 7/8 địa phương cùng đứng ở mức 58.000 đồng/kg, khoảng cách giá trong khu vực chỉ còn 1.000 đồng/kg.
Giá lợn hơi cả nước duy trì 57.000–59.000 đồng/kg
Tổng hợp ngày 16/9, giá lợn hơi cả nước tiếp tục dao động trong khoảng 57.000–59.000 đồng/kg.
| Khu vực | Giá thấp nhất | Giá cao nhất |
|---|---|---|
| Miền Bắc | 58.000 đồng/kg | 59.000 đồng/kg |
| Miền Trung - Tây Nguyên | 57.000 đồng/kg | 58.000 đồng/kg |
| Miền Nam | 57.000 đồng/kg | 58.000 đồng/kg |
| Cả nước | 57.000 đồng/kg | 59.000 đồng/kg |
Theo bảng giá khảo sát, có 11 địa phương ở mức 59.000 đồng/kg, 16 địa phương đứng tại 58.000 đồng/kg và 7 địa phương giao dịch ở 57.000 đồng/kg.
Mức 58.000 đồng/kg tiếp tục là vùng giá phổ biến nhất, xuất hiện tại 16/34 địa phương khảo sát.
Thị trường duy trì trạng thái đi ngang cho thấy cung và cầu hiện chưa xuất hiện sự mất cân đối đáng kể. Miền Bắc vẫn có mặt bằng cao hơn nhưng khoảng cách với hai miền còn lại chỉ từ 1.000–2.000 đồng/kg.
Điểm đáng chú ý là vùng giá thấp 57.000 đồng/kg chưa mở rộng, trong khi phần lớn địa phương trên cả nước đang duy trì từ 58.000 đồng/kg trở lên. Điều này cho thấy áp lực giảm hiện chưa thực sự lớn.
Trong những phiên tiếp theo, giá có thể chịu tác động từ lượng lợn đến tuổi xuất chuồng, sức mua thịt trên thị trường, nhu cầu thu mua của thương lái và tình hình dịch bệnh tại các vùng chăn nuôi.
Nếu nguồn cung tiếp tục ổn định, mặt bằng 57.000–59.000 đồng/kg có thể còn được duy trì. Trong trường hợp nhu cầu thu mua cải thiện, nhóm địa phương phía Bắc có thể là nơi xuất hiện biến động trước.