Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là cơ sở để lập, điều chỉnh quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.

0:00 / 0:00
0:00

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1177/QĐ-TTg ngày 30/6/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Điều chỉnh Quy hoạch).

Mục tiêu của điều chỉnh Quy hoạch nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng đất để thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030, trong đó phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, trong đó ưu tiên cho mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; duy trì hợp lý diện tích đất trồng lúa nhằm ưu tiên hàng đầu đáp ứng cho tiêu dùng trong nước để bảo đảm tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia, sản lượng gạo còn lại mới dành cho xuất khẩu; quản lý chặt chẽ đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, bảo vệ diện tích và phục hồi rừng tự nhiên để duy trì tỷ lệ che phủ rừng gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái và phòng chống thiên tai.

Tiếp tục thực hiện khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng; hạn chế tình trạng suy thoái đất; cải tạo, phục hồi diện tích đất bị thoái hóa gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

2-7-dat.png
Ảnh minh họa (Nguồn: VGP)

Phân bổ không gian sử dụng đất dựa trên tiềm năng 06 vùng kinh tế - xã hội

Định hướng tầm nhìn đến năm 2050, tài nguyên đất được sử dụng hiệu quả, đáp ứng mục tiêu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tập trung đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và phát triển đô thị hiện đại, xanh, văn minh; hoàn thành mục tiêu quốc gia về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trở thành một nước phát triển, thu nhập cao với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Không gian sử dụng đất được phân bố dựa trên tiềm năng các vùng sinh thái nông nghiệp, lợi thế hành lang kinh tế ven biển và 06 vùng kinh tế - xã hội, bảo đảm cân đối được yêu cầu an ninh lương thực, mục tiêu thiên niên kỷ về môi trường, văn hóa, quốc phòng, an ninh; bảo đảm cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên.

Việc bố trí không gian sử dụng đất theo vùng lãnh thổ như sau:

Vùng trung du và miền núi phía Bắc: tập trung bảo vệ, khôi phục rừng, nhất là rừng đầu nguồn nhằm bảo đảm về an ninh môi trường và bảo vệ hệ sinh thái; bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước các hồ, đập để điều tiết nước sản xuất và sinh hoạt. Bảo đảm phát huy các lợi thế về tài nguyên rừng, khoáng sản, các cửa khẩu, văn hóa dân tộc đặc sắc, đa dạng và tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ. Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế dọc theo các trục giao thông hướng tâm về Thủ đô Hà Nội, gắn kết với các hành lang kinh tế quốc tế; phát triển kinh tế vùng biên, phát huy vai trò kinh tế cửa khẩu.

Vùng đồng bằng sông Hồng: xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn. Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển, là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện; tập trung phát triển một số ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Thúc đẩy mạnh mẽ các trung tâm đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh đô thị hóa gắn với phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là các đầu mối liên kết giao thông quan trọng. Phát triển vùng lúa chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch; đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng ở khu vực phía Nam của vùng.

Vùng Bắc Trung Bộ: tăng cường bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển chắn gió, chắn cát, rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học; nâng cao năng lực phòng chống giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Tăng cường liên kết vùng, tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống giao thông, đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển. Phát huy hiệu quả các hành lang kinh tế Bắc - Nam gắn với các cảng biển và dịch vụ cảng biển; đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản gắn với dịch vụ hậu cần nghề cá.

Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp chế biến. Phát triển nhanh, đồng bộ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân. Phát huy hiệu quả các hành lang kinh tế Bắc - Nam và các trục hành lang kinh tế Đông - Tây gắn với các cảng biển nước sâu, cảng biển chuyên dụng, dịch vụ cảng biển; xây dựng kết cấu hạ tầng đường bộ cao tốc và nâng cấp mạng lưới giao thông nội vùng, các tuyến liên vùng để tăng cường liên kết vùng, nhất là vùng Đông Nam Bộ với Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.

Phát triển hệ thống đô thị trong vùng và các trung tâm du lịch lớn, hình thành các tuyến du lịch chuyên đề đặc thù khu vực Tây Nguyên, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm quốc tế. Quy hoạch hệ thống hồ đập, tưới nhỏ giọt, bảo đảm an ninh nguồn nước. Nâng cao hiệu quả các diện tích cây công nghiệp, cây dược liệu; hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối, xây dựng thương hiệu sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Rà soát, củng cố, bảo vệ rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên và xác định lâm phận ổn định; tăng cường phát triển hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với bảo vệ tài nguyên nước, rừng phòng hộ ven biển chắn gió, chắn cát. Nâng cao năng lực, phòng chống giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, bão lũ, hạn hán; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sạt lở. Đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, các trung tâm dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá.

Vùng Đông Nam Bộ: nâng cao khả năng kết nối hạ tầng vùng, tạo động lực liên kết, lan tỏa thúc đẩy hợp tác và phát triển với vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Trung tâm Tài chính Quốc tế; phát triển chuỗi công nghiệp - đô thị Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Cảng Cái Mép - Thị Vải gắn với hành lang kinh tế xuyên Á; tập trung phát triển cảng biển Cái Mép - Thị Vải trở thành cảng biển container trung chuyển quốc tế; xây dựng thành phố sân bay cửa ngõ quốc tế Long Thành. Phát triển nông nghiệp hàng hóa, sinh thái đạt hiệu quả cao về xã hội và môi trường; bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển, rừng ngập mặn.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long: tập trung sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hiện đại, quy mô lớn; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp hiệu quả cao; công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản, thuỷ sản; phát triển chuỗi giá trị về nông nghiệp đối với 03 sản phẩm chủ lực của vùng về thủy sản, trái cây và lúa gạo; vùng trọng điểm về trồng lúa tại khu vực Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; vùng trồng cây ăn quả ven sông Tiền, sông Hậu và khu vực cù lao; vùng nuôi trồng thủy sản tại khu vực ven biển từ Đồng Tháp đến An Giang. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, xây dựng mạng lưới đô thị vùng tạo động lực cho phát triển, tăng cường liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ. Xây dựng, phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy, kết nối nội vùng và liên vùng, bổ trợ và không xung đột với hệ thống thuỷ lợi, đê điều.

Phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Bảo đảm việc sử dụng đất linh hoạt, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, xây dựng các công trình chống sạt lở, xâm nhập mặn, bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Phương án điều chỉnh Quy hoạch

Các chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2030 theo nội dung điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia như sau:

6 giải pháp và nguồn lực thực hiện điều chỉnh Quy hoạch

Quyết định cũng đưa ra các giải pháp và nguồn lực thực hiện điều chỉnh Quy hoạch, bao gồm: cơ chế, chính sách; khoa học và công nghệ; bảo vệ, cải tạo đất, bảo vệ môi trường, phục hồi đất bị suy thoái và ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện quy hoạch; dự kiến nguồn lực thực hiện quy hoạch; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức.

Về khoa học và công nghệ, Quyết định yêu cầu đẩy nhanh chuyển đổi số, xây dựng, vận hành hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai tập trung thống nhất, quản lý nhà nước về đất đai từ trung ương đến địa phương trên môi trường số; chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa hệ thống quản lý thông tin đất đai với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng số có liên quan. Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học máy và công nghệ blockchain nhằm tự động hóa việc quản lý, cập nhật kịp thời, thường xuyên, kiểm tra, bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu và truy xuất nguồn gốc thông tin quy hoạch sử dụng đất; thường xuyên, công bố công khai tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin dữ liệu về quy hoạch sử dụng đất.

Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản xuất lúa thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, giống chất lượng cao, canh tác thông minh, chuyển đổi số và hoàn thiện hệ thống thủy lợi. Nâng cao năng suất, trữ lượng rừng và giá trị kinh tế của rừng thông qua ứng dụng công nghệ giống, quản trị rừng bền vững và chế biến sâu.

Ứng dụng khoa học công nghệ như: dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa không gian, hệ thống hỗ trợ ra quyết định, giám sát thông minh,... trong kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch; giám sát biến động sử dụng đất bằng viễn thám, ảnh vệ tinh, GIS và công cụ số; xây dựng cơ chế cảnh báo sớm đối với khu vực có nguy cơ sử dụng đất sai quy hoạch; dự báo, cảnh báo điều tra, đánh giá, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai và hội nhập quốc tế.

Về thực hiện quy hoạch, Nghị quyết yêu cầu tiếp tục rà soát các quy hoạch ngành quốc gia có sử dụng đất, quy hoạch tỉnh để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Quy hoạch sử dụng đất quốc gia đã được điều chỉnh.

Đồng thời, tăng cường quản lý, kiểm soát sử dụng đất đai trên toàn quốc, trong đó, tập trung công tác thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư, xử lý nghiêm các hoạt động gây ô nhiễm, làm hủy hoại đất, thoái hóa đất. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Có cơ chế linh hoạt để giải quyết đối với một số trường hợp công trình trọng yếu quốc gia phát sinh nhưng chưa có trong quy hoạch sử dụng đất được duyệt để tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư.

Ngoài ra, xây dựng và ban hành các chế tài xử lý các vi phạm trong việc quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, xử lý tình trạng tham nhũng, lãng phí đất đai, đất được giao, cho thuê nhưng chậm đưa vào sử dụng. Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào hoạt động kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, kiên quyết thu hồi các diện tích đất, mặt nước đã giao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhưng chưa sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả.

Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường sự giám sát của các cơ quan dân cử, các tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người dân ở địa phương, đặc biệt là vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp, vai trò của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp và công tác thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, quản lý của bộ ngành, các địa phương gắn với xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm trong công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tăng cường rà soát, kiểm tra, xử lý và công bố công khai đối với những trường hợp đã được thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất mà chưa đưa vào sử dụng; đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lào Cai tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai

Lào Cai tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai vừa ban hành Chỉ thị số 30-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn tỉnh, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân.

Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2026 - 2030

Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2026 - 2030

Kế hoạch nhằm tăng cường hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý đối với người cao tuổi, qua đó giúp người dân nói chung và người cao tuổi nói riêng hiểu và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý đúng quy định pháp luật.

Mức xử phạt vi phạm hành chính viễn thông và CNTT tối đa lên đến 200 triệu đồng

Mức xử phạt vi phạm hành chính viễn thông và CNTT tối đa lên đến 200 triệu đồng

Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và CNTT với mức phạt tối đa 200 triệu đồng cho tổ chức, tác động toàn diện đến người dân, doanh nghiệp, báo chí và quyền sở hữu trí tuệ.

Lào Cai yêu cầu hoàn thành xử lý nhà, đất dôi dư trong quý II/2026

Lào Cai yêu cầu hoàn thành xử lý nhà, đất dôi dư trong quý II/2026

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Văn bản số 4214/UBND-TH về việc đẩy nhanh tiến độ khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính các cấp. Văn bản yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương khẩn trương rà soát, quản lý, khai thác hiệu quả tài sản công, hoàn thành việc xử lý nhà, đất dôi dư trong quý II/2026, bảo đảm chống thất thoát, lãng phí.

Quyết liệt hoàn thành 100 trường nội trú vùng biên trước năm học mới

Quyết liệt hoàn thành 100 trường nội trú vùng biên trước năm học mới

Thủ tướng yêu cầu Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch UBND các tỉnh biên giới đất liền trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ, chất lượng, hiệu quả đầu tư các công trình. Các địa phương phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, triển khai “chiến dịch 100 ngày đêm cao điểm”, bám sát tiến độ từng ngày, từng tuần để bảo đảm hoàn thành 100 trường trước ngày 30/8/2026.

Giáo viên được hưởng phụ cấp cao nhất tới 80%

Giáo viên được hưởng phụ cấp cao nhất tới 80%

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục trong các cơ sở giáo dục công lập. Theo quy định mới, mức phụ cấp dao động từ 20% đến 80%, tùy cấp học, vị trí việc làm và điều kiện công tác.

Lào Cai triển khai đồng bộ giải pháp ngăn chặn tảo hôn, nữ dưới 18 tuổi sinh con trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Lào Cai triển khai đồng bộ giải pháp ngăn chặn tảo hôn, nữ dưới 18 tuổi sinh con trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 25/10/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tảo hôn, nữ dưới 18 tuổi sinh con trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030.

Đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững của tỉnh

Đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững của tỉnh

Tỉnh Lào Cai đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng, phát triển văn hóa toàn diện, ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, thực sự là nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững của tỉnh trong kỷ nguyên mới theo hướng “Xanh, hài hòa, bản sắc, hạnh phúc”.

fb yt zl tw