'Chìa khóa' mở cánh cửa phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang xây dựng tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, để xác định địa bàn ưu tiên đầu tư, phân bổ nguồn lực công bằng và hiệu quả.

2.jpg
Tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang hoàn thiện dự thảo Nghị định về Tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu xây dựng một hệ thống tiêu chí rõ ràng, minh bạch nhằm áp dụng chính sách có địa chỉ, đúng đối tượng; thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nông nghiệp đặc sản, góp phần phát triển bền vững.

Thu hẹp dần khoảng cách phát triển

Đại diện lãnh đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho hay hiện nay, việc phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển đang được thực hiện theo Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ, áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025.

Tuy nhiên, quyết định trên sẽ hết hiệu lực sau năm 2025. Do đó, nếu không có văn bản mới thay thế sẽ dẫn đến khoảng trống pháp lý trong việc xác định địa bàn triển khai các chính sách dân tộc, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xây dựng và phân bổ nguồn lực đầu tư trung hạn giai đoạn tiếp theo.

Vì vậy, việc ban hành nghị định thay thế quyết định hiện hành là cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, bảo đảm thống nhất, minh bạch và phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Tổ chức Chính phủ và yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay.

Đặc biệt, theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, việc ban hành nghị định trên sẽ thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Thực tế, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định vị trí, vai trò chiến lược của công tác dân tộc và chính sách dân tộc trong sự nghiệp phát triển. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục phát triển toàn diện kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa các dân tộc”.

Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW khóa IX, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc theo hướng tích hợp, lồng ghép, có trọng tâm, trọng điểm.

Quốc hội cũng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 và thông qua bố trí vốn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Tuy nhiên, để cụ thể hóa các chủ trương trên, theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cần thiết phải ban hành một văn bản quy phạm pháp luật cấp Chính phủ nhằm quy định thống nhất, công khai, minh bạch các tiêu chí phân định địa bàn, làm cơ sở áp dụng chính sách dân tộc trong giai đoạn 2026 - 2030 và các giai đoạn tiếp theo.

Đặc biệt, trong giai đoạn 2026 - 2030, mục tiêu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là xóa đói giảm nghèo, mà còn hướng đến phát triển toàn diện, bền vững, có bản sắc và gắn kết liên vùng.

“Do đó, cần thiết phải xây dựng tiêu chí phân định phù hợp với yêu cầu mới, làm cơ sở hoạch định chính sách một cách chiến lược, hiệu quả,” đại diện lãnh đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo thông tin.

Thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh

Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Nghị định về Tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, là căn cứ để xác định địa bàn ưu tiên đầu tư, phân bổ nguồn lực công bằng và hiệu quả.

Cụ thể, các tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gồm: Có tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều gấp từ 3 lần tỷ lệ nghèo theo chuẩn đa chiều bình quân của cả nước trở lên; riêng Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều gấp từ 2 lần tỷ lệ nghèo theo chuẩn đa chiều bình quân của cả nước trở lên.

Tiếp theo là tỷ lệ đường từ trung tâm xã đến các thôn chưa được cứng hoá theo tiêu chuẩn B đường giao thông nông thôn; chưa có điện lưới quốc gia hoặc đã có nhưng còn trên 30% số hộ chưa được sử dụng điện lưới quốc gia.

Phát triển nông nghiệp đặc sản, kinh tế bản địa.
Phát triển nông nghiệp đặc sản, kinh tế bản địa.

Trong đó việc xác định thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phải đảm bảo là thôn có ít nhất 2 trên 3 tiêu chí trên.

Đối với tiêu chí phân định xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đề xuất 8 tiêu chí, gồm: Thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 50% trở lên so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước theo công bố của năm trước liền kề; có tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều cao gấp từ 1,5-2 lần trở lên so với tỷ lệ nghèo theo chuẩn đa chiều bình quân của cả nước.

Tiếp theo là tỷ lệ hộ có điện sử dụng thường xuyên, an toàn đạt dưới 90%; tỷ lệ hộ dùng nước sạch, hợp vệ sinh đạt dưới 80%; tỷ lệ đường xã được cứng hóa theo tiêu chuẩn A đường giao thông nông thôn đạt dưới 80%; tỷ lệ đường giao thông nông thôn từ trung tâm xã đến các thôn được cứng hoá đạt dưới 60%; chưa có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ trường, lớp học được xây dựng kiên cố đạt dưới 90%.

Trên cơ sở đó, phân định xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ áp dụng theo trình độ phát triển: Xã khu vực I (xã đang phát triển) là xã có ít hơn 3 tiêu chí; xã khu vực II (xã khó khăn) là xã có từ 3 đến 4 tiêu chí; xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn) là xã có từ 5 tiêu chí trở lên.

Căn cứ các tiêu chí trên, Trung ương và các địa phương sẽ phân định rõ ràng các địa bàn theo đặc điểm dân cư, địa hình, điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để áp dụng chính sách có địa chỉ, đúng đối tượng; ưu tiên đầu tư các nguồn lực ngân sách Nhà nước, vốn ODA, vốn vay ưu đãi và nguồn lực xã hội; thiết lập hệ thống dữ liệu thống nhất phục vụ quản lý, theo dõi và đánh giá chính sách một cách khách quan, minh bạch.

Cùng với đó, nghị định cũng góp phần phân định địa bàn cụ thể. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, phân định địa bàn không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của quản lý nhà nước, mà còn là công cụ để rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc; bảo đảm quyền tiếp cận công bằng đến các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế, nước sạch, điện, internet.

Nghị định về Tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, cũng sẽ góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nông nghiệp đặc sản, kinh tế bản địa; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Theo vietnamplus.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Phụ nữ Bảo Ái: Khi thông tin mở hướng phát triển kinh tế

Phụ nữ Bảo Ái: Khi thông tin mở hướng phát triển kinh tế

Không chỉ là nơi tập hợp hội viên, những năm gần đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Bảo Ái còn phát huy vai trò cầu nối, đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, kiến thức sản xuất và chuyển đổi số đến gần phụ nữ ở cơ sở. Thông qua các buổi sinh hoạt chi hội, nhóm Zalo và những mô hình tuyên truyền thiết thực, nhiều hội viên đã mạnh dạn đổi mới cách nghĩ, cách làm, phát triển kinh tế gia đình, từng bước nâng cao thu nhập, vươn lên thoát nghèo.

Mưa lớn làm ngập úng hơn 80 nhà dân, gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Mưa lớn làm ngập úng hơn 80 nhà dân, gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Đợt mưa lớn từ chiều 27 đến sáng 30/7 đã gây thiệt hại tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, đến sáng 30/7, mưa lũ đã ảnh hưởng đến 20 xã, phường gây thiệt hại lớn về nhà ở, sản xuất và hạ tầng giao thông, với tổng giá trị ước trên 8,64 tỷ đồng.

Lào Cai cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại 53 xã, phường trong 6 giờ tới

Lào Cai cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại 53 xã, phường trong 6 giờ tới

Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn cảnh báo, trong 6 giờ tới, nhiều khu vực trên địa bàn tỉnh Lào Cai tiếp tục có mưa với lượng phổ biến từ 10 - 20 mm, có nơi trên 50 mm, làm gia tăng nguy cơ xảy ra lũ quét trên các sông, suối nhỏ, sạt lở đất ở sườn đồi, taluy giao thông, sụt lún đất và ngập úng tại vùng trũng thấp, khu đô thị.

Chính sách gần dân, an sinh bền vững

Chính sách gần dân, an sinh bền vững

Đối với nhiều hộ dân ở vùng cao Lào Cai, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo và người cao tuổi, kinh tế còn nhiều khó khăn nên việc tham gia bảo hiểm y tế vẫn là khoản chi cần cân nhắc. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế của Nhà nước và của tỉnh đã trở thành điểm tựa để nhiều người dân tiếp tục duy trì thẻ bảo hiểm, bảo đảm quyền lợi khi khám, chữa bệnh.

Đưa cơ hội việc làm đến gần người dân

Đưa cơ hội việc làm đến gần người dân

Việc làm ổn định là điều kiện quan trọng để người dân nâng cao thu nhập, từng bước thoát nghèo bền vững. Cùng với phát triển các mô hình sản xuất tại chỗ, xã Bảo Ái đẩy mạnh đào tạo nghề, cung cấp thông tin tuyển dụng và hỗ trợ người lao động tiếp cận thị trường việc làm trong, ngoài tỉnh cũng như đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Để tuyến y tế cơ sở làm tốt vai trò "gác cổng"

Để tuyến y tế cơ sở làm tốt vai trò "gác cổng"

Buổi sáng ở Trạm Y tế xã Trạm Tấu, tỉnh Lào Cai bắt đầu từ rất sớm. Trong phòng khám còn khiêm tốn giữa vùng cao, tiếng gọi tên bệnh nhân xen lẫn tiếng máy đo huyết áp, tiếng trẻ nhỏ bi bô và lời dặn dò ân cần của cán bộ y tế.

Lá đơn xin ra khỏi hộ nghèo

Lá đơn xin ra khỏi hộ nghèo

Ở xã Bảo Ái, có những lá đơn không xin hỗ trợ mà tự nguyện xin ra khỏi diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. Những dòng chữ mộc mạc không chỉ thể hiện lòng tự trọng, ý chí tự lực của người dân mà còn cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức: chính sách giảm nghèo là điểm tựa để vươn lên, không phải chỗ dựa lâu dài.

fb yt zl tw