Vùng “nguy cơ kép” của dịch bệnh
Theo thống kê của Bộ Y tế, từ đầu năm 2026 đến nay, cả nước ghi nhận 24 ca mắc bệnh não mô cầu, trong đó có 4 trường hợp tử vong. Đáng chú ý, nhóm trẻ dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số ca bệnh. Từ thực tế này, Bộ Y tế cảnh báo nguy cơ dịch bệnh lây lan trong cộng đồng, đặc biệt tại các môi trường tập trung đông trẻ em như trường học, nhà trẻ và khu vui chơi.
Các chuyên gia y tế cho biết, vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis cư trú ở vùng hầu họng và lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần với dịch tiết chứa mầm bệnh. Khi hệ miễn dịch suy giảm hoặc niêm mạc hô hấp bị tổn thương, vi khuẩn có thể nhanh chóng xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng huyết tối cấp hoặc tấn công hệ thần kinh trung ương gây viêm màng não.
Theo bác sĩ chuyên khoa I Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống Tiêm chủng VNVC, vi khuẩn não mô cầu gây ra hai thể bệnh thường gặp là viêm màng não (chiếm hơn 50% số ca) và nhiễm trùng huyết tối cấp (chiếm 5 - 20%). Hai thể bệnh này có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời, với tốc độ diễn tiến rất nhanh. Không ít trường hợp, trẻ còn đi học bình thường vào ban ngày nhưng chỉ sau vài giờ đã rơi vào tình trạng nguy kịch. Ngoài ra, bệnh cũng có thể biểu hiện ở một số thể ít gặp hơn như viêm phổi (5 - 15%), viêm kết mạc, viêm tai giữa, viêm thanh môn, viêm khớp, viêm niệu đạo hoặc viêm màng ngoài tim.
“Trẻ dưới 15 tuổi đối mặt với “nguy cơ kép” khi vừa dễ mang vi khuẩn não mô cầu vừa có nguy cơ diễn tiến nặng khi mắc bệnh. Đáng chú ý, nhóm vị thành niên có tỉ lệ mang vi khuẩn ở vùng hầu họng cao gấp đôi so với dân số chung. Vì vậy, họ không chỉ có nguy cơ mắc bệnh cao mà còn có thể trở thành nguồn lây tiềm ẩn trong cộng đồng” - bác sĩ chuyên khoa I Bạch Thị Chính lưu ý.
Theo Hội Y học dự phòng, tỉ lệ mang vi khuẩn não mô cầu ở trẻ dưới 15 tuổi có thể lên tới 25 - 32%, cao nhất trong các nhóm tuổi. Dữ liệu quốc tế cũng cho thấy nhóm 13 - 19 tuổi có tỉ lệ mắc cao nhất (khoảng 34,2%) và chiếm gần một nửa số ca tử vong. Trẻ nhỏ dễ phơi nhiễm do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện và thói quen tiếp xúc gần, trong khi thanh, thiếu niên lại có nguy cơ lây lan cao trong các môi trường tập thể như trường học, ký túc xá và các hoạt động sinh hoạt đông người.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nếu không được điều trị kịp thời, tỉ lệ tử vong do bệnh não mô cầu có thể lên tới 50%; ngay cả khi được cứu chữa tích cực, khoảng 10 - 15% trường hợp vẫn không qua khỏi. Không chỉ gây hậu quả cấp tính, bệnh còn để lại gánh nặng lâu dài đối với sức khỏe thể chất và tinh thần. Khoảng 20% người sống sót phải đối mặt với các di chứng nặng nề như điếc, liệt, tổn thương não, suy thận hoặc chậm phát triển trí tuệ. Ngoài ra, trẻ sau mắc bệnh còn có nguy cơ gặp các rối loạn tâm lý như tăng động giảm chú ý, lo âu, trầm cảm. Ngay cả người chăm sóc, đặc biệt là cha mẹ, cũng có thể chịu ảnh hưởng tâm lý kéo dài sau những biến cố liên quan đến bệnh tật của con.
Vắc xin - “lá chắn” quan trọng
Trước thực tế đáng lo ngại của bệnh não mô cầu, các chuyên gia y tế thống nhất rằng tiêm chủng là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, việc tiêm vắc xin không chỉ dừng ở “có tiêm” mà cần thực hiện đúng lịch, đủ liều và bao phủ toàn diện các nhóm huyết thanh gây bệnh.
Hiện nay, tại Việt Nam đang lưu hành đồng thời 5 nhóm huyết thanh não mô cầu gồm A, B, C, Y và W. Theo bác sĩ Bạch Thị Chính, mỗi loại vắc xin chỉ phòng ngừa một hoặc một số nhóm huyết thanh nhất định và không có miễn dịch chéo giữa các nhóm. Điều đó đồng nghĩa, nếu chỉ tiêm một loại vắc xin, trẻ vẫn có nguy cơ mắc bệnh do các nhóm huyết thanh khác.
“Tất cả những người chưa có miễn dịch đều có nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là trẻ nhỏ, học sinh, sinh viên và thanh, thiếu niên sống trong môi trường tập thể. Do đó, phụ huynh cần chủ động rà soát lại lịch tiêm, cũng như phạm vi bảo vệ của vắc xin, bảo đảm trẻ được tiêm phối hợp đầy đủ nhóm B và nhóm A, C, Y, W để được bảo vệ toàn diện” - bác sĩ Bạch Thị Chính nhấn mạnh.
Các chuyên gia cũng lưu ý, những người chưa có miễn dịch đều có nguy cơ mắc bệnh não mô cầu, trong đó nhóm trẻ nhỏ, học sinh, sinh viên và thanh, thiếu niên sống trong môi trường tập thể là đối tượng có nguy cơ cao nhất. Vì vậy, việc chủ động rà soát lịch tiêm và bổ sung các mũi tiêm còn thiếu là bước quan trọng để giảm thiểu nguy cơ. Không chỉ giúp giảm tỉ lệ mắc và tử vong, tiêm vắc xin còn góp phần hạn chế tình trạng người lành mang trùng, yếu tố quan trọng trong kiểm soát lây lan dịch bệnh trong cộng đồng. Khi tỉ lệ bao phủ vắc xin đủ cao, nguy cơ bùng phát dịch cũng được kiểm soát hiệu quả hơn.