Dùng tảo hạt hoạt tính xử lý nước thải

Bằng cách thu hồi dinh dưỡng trong nước thải, tảo hạt hoạt tính sẽ làm sạch, xử lý nước trong thời gian ngắn, không gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả với nước ô nhiễm nặng chất hữu cơ.

Dùng tảo hạt hoạt tính xử lý nước thải có thể thay thế nhiều loại nguyên liệu khác.

Xử lý nước thải tại chỗ

Không cần phải xây dựng các trạm xử lý nước thải với máy móc công nghệ phức tạp, các nhà khoa học đã nghiên cứu sử dụng tảo làm sạch, xử lý nước tại chỗ, đem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu này của nhóm tác giả do TS Bùi Xuân Thành, Trưởng phòng Thí nghiệm Trọng điểm Đại học Quốc gia Công nghệ Xử lý Chất thải Bậc cao – Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia TPHCM đứng đầu.

ThS Nguyễn Ngọc Kim Quy, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, tảo hạt có thể ứng dụng làm nguồn nguyên/nhiên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp như xăng sinh học, nhựa sinh học, phân bón. Vi tảo, sản phẩm của tảo hạt được sử dụng làm xăng sinh học, nhựa sinh học.

So với nuôi cấy vi tảo thông thường, để nuôi tảo hạt, người ta thường sử dụng hóa chất để bổ sung dinh dưỡng N, P. Nguồn nước sạch dùng trong nuôi cấy tảo quy mô lớn cũng là một vấn đề nan giải đối với việc khan hiếm nước sạch hiện nay.

Nếu sử dụng tảo hạt hoạt tính nuôi cấy từ nước thải, tất cả các chi phí nêu trên đều được giảm thiểu. Cụ thể, tảo hạt sẽ dùng dinh dưỡng Natri (N), Phốt Pho (P) trong nước thải – có sẵn mỗi ngày, hệ thống nuôi cấy cũng không cần nguồn nước sạch.

Và do tảo hạt có kích thước nặng, cấu tạo đặc, việc thu hồi sinh khối chỉ cần tốn khoảng 3 phút để thu hồi > 90% sinh khối (trong nghiên cứu của nhóm tác giả Bird fighter), do đó không cần tốn kém chi phí cho hóa chất thu hồi sinh khối. Với các hệ thống đang nuôi tảo thông thường, muốn chuyển sang nuôi tảo hạt thì chỉ cần sử dụng một lượng nhỏ “tảo hạt” giống – sản phẩm của nhóm để nuôi cây trong một thời gian ngắn.

Sử dụng vi tảo trong xử lý nước thải là một phương pháp giúp thu hồi chất dinh dưỡng N, P, biến loại vi sinh này từ một mối đe dọa thành một nguồn nhiên liệu thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, do vi tảo có kích thước và khối lượng riêng rất nhỏ so với nước nên tốc độ lắng sẽ rất chậm, ảnh hưởng đến việc thu hoạch sinh khối.

Việc phát triển “tảo hạt hoạt tính” khi kết hợp tảo và vi khuẩn sẽ khiến sinh khối tảo dễ thu hồi nhờ kích thước hạt lớn, đặc, chứa nhiều vi tảo sẽ khiến việc ứng dụng vi tảo trong thu hồi chất dinh dưỡng từ nước thải để sử dụng trong các ngành công nghiệp xanh sẽ dễ dàng được hiện thực hóa hơn.

Sản phẩm tảo hạt hoạt tính được hình thành bằng cách đồng nuôi cấy vi tảo chủng Chlorella và vi khuẩn (được phân tách từ bùn hoạt tính dùng trong xử lý nuớc thải). Tảo hạt có kích thước phân bố từ 100 – 1.000 um, có thể lắng > 90% sinh khối sau 3 phút. Tảo hạt có hàm lượng vi tảo cao, chứa nhiều hợp chất có tính năng thương mại hóa đặc trưng như lipid, tinh bột, N, P.

Đối với hệ thống để tạo được tảo hạt hoạt tính, cần sử dụng các bể quang sinh học kín, hình trụ tạo bằng vật liệu trong suốt để tăng cường khả năng tiếp xúc ánh sáng của vi tảo. Khuấy trộn trong hệ thống sẽ dùng hệ thống cánh khuấy chân vịt.

Loại đèn sử dụng hiện tại được áp dụng sẽ là đèn led ánh sáng trắng để giảm lượng nhiệt phát sinh trong hệ thống. Hệ thống thiết bị tự động để kiểm soát quá trình vận hành, nạp và xả nước thải, cũng như thu hồi sinh khối tảo hạt.

Tảo hạt hoạt tính được tạo thành từ nguồn nước thải có sẵn, sử dụng hệ thống bể quang sinh học và khuấy trộn cơ học, có 2 tính năng ưu việt. Tảo hạt hoạt tính có khả năng chuyển hóa, thu hồi các chất dinh dưỡng N, P có trong nước thải trở thành nguồn sinh khối có giá trị kinh tế (so với công nghệ cũ chỉ dùng bùn hoạt tính sẽ gây phát sinh bùn thải – nguồn chất thải cần xử lý của quá trình xử lý nước thải sinh học).

Tảo hạt hoạt tính là giải pháp thu hồi sinh khối vi tảo rẻ tiền chỉ bằng lắng trọng lực, không yêu cầu hóa chất keo tụ (có khả năng gây ô nhiễm môi trường).

Nhiều tiềm năng ứng dụng

Nghiên cứu hiện mới chỉ dừng ở phòng thí nghiệm, nhóm chưa có điều kiện triển khai rộng rãi ngoài thực tế. Vi tảo có thể loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng: Hiệu quả loại bỏ chất hữu cơ trung bình luôn trên 90%, loại bỏ Nitơ: Lên đến 94%.

So với hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thông thường, cần sử dụng nhiều hệ thống với các chế độ vận hành khác nhau (để nuôi cấy các giống vi sinh khác nhau) để xử lý toàn bộ các chất ô nhiễm, sử dụng tảo hạt hoạt tính sẽ chỉ cần dùng 1 hệ thống bể quang sinh học duy nhất với ưu điểm nhỏ gọn, tiện lợi, giảm thiểu chi phí xây dựng.

Nhóm nghiên cứu cho biết tảo thu hồi dinh dưỡng trong nước để xử lý nước thải, đồng thời thu hồi sinh khối tảo hoạt tính. Sinh khối tảo hoạt tính có thể ứng dụng làm nhiên liệu sinh học. Vi tảo đã được coi là nguồn nguyên liệu tiềm năng để sản xuất diesel sinh học do sự cung cấp hạn chế của các nguồn thực phẩm khác như mỡ động vật, dầu ăn thải và các loài dầu thực vật khác.

Ngoài ra còn làm phân bón sinh học. Việc sản xuất phân bón sinh học từ vi tảo là một giải pháp đơn giản và rẻ tiền, giảm thiểu các vấn nạn ô nhiễm môi trường vì hóa chất trong canh tác nông nghiệp hiện nay.

Điều đặc biệt là sinh khối tảo còn được ứng dụng để làm nhựa sinh học. Trong chủng vi tảo Chlorella (giống tảo chính trong sản phẩm tảo hạt hoạt tính) là một trong những chủng vi tảo có chứa hàm lượng tinh bột cao nhất tính đến hiện tại, có tiềm năng trong việc sản xuất nhựa sinh học.

Nhóm tác giả cho biết, mô hình nghiên cứu hiện vẫn đang hoạt động để nghiên cứu chuyên sâu hơn, thử nghiệm các điều kiện vận hành khác nhau nhằm tăng cường các đặc tính hữu ích, tiềm năng ứng dụng tảo hạt trong thực tế.

GDTĐ

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Vận hành chính quyền với hệ thống quản trị số “Make in Mường Lai”

Vận hành chính quyền với hệ thống quản trị số “Make in Mường Lai”

Từ tháng 7/2025, tỉnh Lào Cai chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trong đó xã Mường Lai nổi lên như một điểm sáng về đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành. Vượt qua những lúng túng ban đầu trước khối lượng công việc lớn khi sáp nhập và tiếp nhận nhiệm vụ từ cấp huyện, địa phương đã chủ động xây dựng hệ thống quản trị số “Make in Mường Lai”, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát cán bộ và phục vụ người dân.

Người dân "biết số, hiểu số và dùng số"

Người dân "biết số, hiểu số và dùng số"

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Lào Cai xác định người dân vừa là chủ thể, vừa là trung tâm của tiến trình chuyển đổi số. Từ nhận thức đó, thời gian qua, các cấp, ngành trong tỉnh đã tập trung triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao kỹ năng số cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 

Lào Cai triển khai Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Lào Cai triển khai Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 2244/QĐ-TTg ngày 13/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Động lực cho đổi mới sáng tạo

Động lực cho đổi mới sáng tạo

Mô hình liên kết “3 nhà” (Nhà nước, nhà trường, nhà doanh nghiệp) trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những giải pháp được tỉnh triển khai nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Chuyển đổi số mở lối cho y tế Việt Nam bứt phá

Chuyển đổi số mở lối cho y tế Việt Nam bứt phá

Những thành tựu y học mới cùng sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại đang tạo động lực mạnh mẽ cho ngành y tế đổi mới toàn diện. Kết hợp chuyển đổi số với nâng cao chất lượng bệnh viện được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống y tế phục vụ người dân hiệu quả và bền vững hơn.

Nghị quyết số 57-NQ/TW: Đồng tốc, đồng lòng, bước ra 'vùng chính sách' để đi vào đời sống

Nghị quyết số 57-NQ/TW: Đồng tốc, đồng lòng, bước ra 'vùng chính sách' để đi vào đời sống

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, những chuyển động bước đầu cho thấy tinh thần đồng tốc trong chỉ đạo, đồng lòng trong tổ chức thực hiện. Nghị quyết 57 đang được cụ thể hóa bằng thể chế, nguồn lực và các kết quả có thể đo đếm.

Lào Cai đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phong trào “Bình dân học vụ số”

Lào Cai đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phong trào “Bình dân học vụ số”

Thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phong trào “Bình dân học vụ số”. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho cán bộ và Nhân dân, từng bước tạo nền tảng cho tiến trình chuyển đổi số trên địa bàn.

Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh “số”

Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh “số”

Tại Lào Cai, việc triển khai nghị quyết số 57- NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là bài toán thực tiễn về tư duy, thể chế và cách làm. Sau một năm thực hiện với quyết tâm chính trị cao, cách làm bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, Nghị quyết 57 đã từng bước hình thành nền tảng cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, tạo động lực phát triển mới.

Đề án 06 – Đòn bẩy số hóa vì người dân

Đề án 06 – Đòn bẩy số hóa vì người dân

Chỉ với chiếc căn cước công dân gắn chip, người dân có thể đi khám chữa bệnh, làm thủ tục hành chính, nhận lương hưu, trợ cấp an sinh xã hội mà không cần mang theo nhiều loại giấy tờ như trước. Những thay đổi thiết thực ấy cho thấy Đề án 06 đã thực sự đi vào đời sống, phục vụ người dân hiệu quả hơn.

Lào Cai nằm trong top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai

Lào Cai nằm trong top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai

Sau 90 ngày triển khai Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo Kế hoạch số 515/KH-BCA-BNN&MT, tỉnh Lào Cai đã hoàn thành khối lượng công việc lớn, đạt kết quả nổi bật và được xếp trong top 10/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ làm sạch, xác thực và đồng bộ dữ liệu đất đai cao trên cả nước.

Lào Cai: Kinh tế số thay đổi tư duy phụ nữ vùng cao

Lào Cai: Kinh tế số thay đổi tư duy phụ nữ vùng cao

Kinh tế số đang mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho người dân Lào Cai. Trong dòng chảy ấy, phụ nữ dân tộc thiểu số ngày càng chủ động tiếp cận công nghệ, tham gia sản xuất - kinh doanh trên môi trường số, qua đó góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và khẳng định vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình, cộng đồng.

Học sinh Mù Cang Chải và dự án nâng tầm kỹ năng số

Học sinh Mù Cang Chải và dự án nâng tầm kỹ năng số

Trước làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, dự án “Thế giới số - Bước chân học sinh hiện đại” của nhóm học sinh Trường THPT Mù Cang Chải trở thành một điểm sáng. Không chỉ là sản phẩm dự thi khoa học, kỹ thuật năm 2025, dự án của em Đặng Hương Thảo lớp 12A4 và Phạm Quang Huy lớp 10A1 thể hiện nỗ lực tiếp cận công nghệ, thu hẹp khoảng cách tri thức và hỗ trợ học sinh vùng cao chuẩn bị tốt hơn cho môi trường học tập số.

Lào Cai triển khai 152 đội hình “Bình dân học vụ số”

Lào Cai triển khai 152 đội hình “Bình dân học vụ số”

Năm 2025, Tỉnh ủy Lào Cai xác định triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” là một trong những giải pháp trọng tâm, mang ý nghĩa chiến lược nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là bước đi thiết thực đưa công nghệ số đến gần hơn với người dân, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình chuyển đổi số toàn diện của tỉnh.

fb yt zl tw