Đã xử lý được hơn 380 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết 42

Trải qua gần 5 năm thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD), toàn hệ thống đã xử lý được 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu, góp phần cơ bản kiểm soát được nợ xấu trong giai đoạn 2017-2021.

Đã xử lý được hơn 380 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết 42 ảnh 1
Phiên họp tại hội trường Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV sáng 24/5. (Ảnh: LINH NGUYÊN)

Nhiều chuyển biến tích cực

Tiếp tục chương trình làm việc của Kỳ họp thứ ba, sáng 24/5, Quốc hội nghe Báo cáo tổng kết và Báo cáo đánh giá tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (Nghị quyết 42), và Tờ trình về việc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết 42.

Báo cáo trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh, qua gần 5 năm triển khai trong thực tiễn, các mục tiêu, yêu cầu của Nghị quyết 42 cơ bản đã đạt được, tạo lập khuôn khổ pháp lý để xử lý các khoản nợ xấu, hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý nợ xấu và duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới mức 2%.

Theo đó, lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến 31/12/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết 42, bằng 47,9% số nợ xấu theo Nghị quyết tại thời điểm ngày 15/8/2017 và số nợ xấu theo Nghị quyết 42 phát sinh mới trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực.

Trong đó, có 148 nghìn tỷ đồng là do khách hàng tự trả nợ, chiếm 38,93%, cao hơn so với mức 22,8% trung bình năm từ 2012-2017. Đồng thời, kết quả xử lý, bán, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của TCTD và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đạt 77,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,3%.

Tính trung bình nợ xấu đã xử lý đạt khoảng 5,67 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn mức trung bình 3,25 nghìn tỷ đồng/tháng trong giai đoạn trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (từ năm 2012-2017).

Ngoài ra, Nghị quyết 42 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã có tác động tích cực đến quá trình cơ cấu lại, phát triển của hệ thống các TCTD. Nhờ đó, các TCTD có điều kiện hạ mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, đặc biệt trong giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Tuy vậy, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện Nghị quyết, nhất là trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp đang chịu những tác động bất lợi, tiêu cực từ môi trường bên ngoài, đặc biệt là dịch bệnh Covid-19 xuất hiện. Nhiều doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn, không trả được nợ ngân hàng, dẫn đến nguy cơ nợ xấu có xu hướng gia tăng trong thời gian tới.

Đến ngày 31/12/2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC và các khoản nợ tiềm ẩn thành nợ xấu ở mức cao là 6,31%. Nợ xấu chưa xử lý theo Nghị quyết 42 đến ngày 31/12/2021 vẫn ở mức cao là 412,7 nghìn tỷ đồng. Xử lý nợ xấu theo hình thức khách hàng tự trả nợ giảm do dịch Covid-19 tác động đến tình hình tài chính của khách hàng.

Cần thiết kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết

Nghị quyết 42 mang tính thí điểm các chính sách mới nên hiệu lực chỉ kéo dài 5 năm. Đến ngày 15/8/2022, Nghị quyết sẽ hết hiệu lực thi hành, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết đang được thực hiện sẽ chấm dứt, và việc xử lý nợ xấu của TCTD sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Theo đánh giá của Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, việc này sẽ dẫn đến kéo dài quá trình xử lý nợ xấu, cũng như không khuyến khích, huy động được các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia công tác xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD.

Nghị quyết 42 là chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, giúp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Do đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh việc duy trì cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 42 và tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu là rất cần thiết trong thời gian tới.

Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Giảm nghèo đa chiều: Từ chủ trương đến thực tiễn

Giảm nghèo đa chiều: Từ chủ trương đến thực tiễn

Sau sáp nhập, công tác giảm nghèo ở Lào Cai bước sang một giai đoạn mới: rộng hơn về địa bàn, đa dạng hơn về điều kiện và quyết liệt hơn về cách làm. Từ bản người Mông trên đỉnh Cu Vai đến những bản Dao bên dãy Nhìu Cồ San, từ vùng quế trùng điệp Văn Yên đến các tổ dân phố ven sông Hồng của phường trung tâm, công cuộc giảm nghèo đa chiều ở Lào Cai đang được triển khai đồng bộ, lấy người dân làm trung tâm với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị.

Sa Pa thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ, du lịch đẳng cấp thế giới

Sa Pa thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ, du lịch đẳng cấp thế giới

Sở hữu bề dày lịch sử trên 120 năm trên bản đồ du lịch, Sa Pa đang bứt phá mạnh mẽ để trở thành trung tâm dịch vụ du lịch tầm cỡ quốc tế. Nhờ tư duy chiến lược "biến di sản thành tài sản" kết hợp cùng những dòng vốn đầu tư nghìn tỷ vào hạ tầng, Sa Pa đang khẳng định vị thế là cực tăng trưởng kinh tế mũi nhọn, điểm đến hấp dẫn bậc nhất trong khu vực ASEAN.

Lào Cai: Chuẩn hóa tài khoản, tăng cường minh bạch dòng tiền trong hoạt động kinh doanh

Lào Cai: Chuẩn hóa tài khoản, tăng cường minh bạch dòng tiền trong hoạt động kinh doanh

Theo Thông tư 25 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hộ kinh doanh bắt buộc phải sử dụng tài khoản thanh toán đứng tên theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đây là đòn bẩy chiến lược với sự vào cuộc quyết liệt của ngành thuế và hệ thống ngân hàng, giúp minh bạch hóa dòng tiền, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, đồng thời mở ra cơ hội bứt phá số cho khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Lào Cai.

Lào Cai đón làn sóng đầu tư mới từ doanh nghiệp Trung Quốc

Lào Cai đón làn sóng đầu tư mới từ doanh nghiệp Trung Quốc

Nằm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, nhiều năm qua, Lào Cai không chỉ giữ vai trò “cửa ngõ” giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn từng bước khẳng định điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp đến từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

fb yt zl tw