67 tỷ USD đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam: Tự chủ, tránh lệ thuộc

Sau 14 năm kể từ khi Quốc hội biểu quyết không thông qua, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam lại được đặt đưa vào nghị trường, các đại biểu thảo luận sôi nổi sáng 13/11.

Khác với năm 2010, mối quan tâm hàng đầu của các đại biểu không phải ở con số hàng chục tỷ USD, nỗi lo nợ công, mà là vấn đề chuyển giao công nghệ nhằm tự chủ, từ đó “kích hoạt” ngành công nghiệp đường sắt trong nước phát triển.

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng khẳng định doanh nghiệp Việt Nam đảm đương và làm chủ dự án.
Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng khẳng định doanh nghiệp Việt Nam đảm đương và làm chủ dự án.

“Chúng ta đâu chỉ có mỗi dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, mà còn hàng loạt các dự án khác đang được xem xét đầu tư xây dựng, như dự án đường sắt TPHCM - Cần Thơ, đường sắt lên Tây Nguyên, đường sắt đô thị ở Hà Nội và TPHCM…

Vậy nên, vấn đề quan trọng không phải là vốn, nợ công mà là chuyển giao công nghệ, làm chủ công nghệ, để từ dự án này, chúng ta sẽ “kích hoạt” phát triển được ngành công nghiệp đường sắt trong nước, từ đó chủ động triển khai xây dựng”, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường nói.

Kích hoạt phát triển ngành công nghiệp đường sắt

Những gì ông Cường nói cũng là vấn đề được Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh khi trình bày báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Theo ông Thắng, so với năm 2010 - thời điểm mà Quốc hội chưa thông qua, bối cảnh quy mô nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi.

Cụ thể, quy mô nền kinh tế Việt Nam hiện đã tăng gấp 3 lần so với 14 năm trước, nợ công chỉ còn ở mức 37% GDP (thấp hơn so với mức 56,6% vào năm 2010). “Nguồn lực để đầu tư dự án không còn là trở ngại lớn”, ông Thắng nói.

ĐBQH Hoàng Văn Cường đề nghị bắt buộc phải chuyển giao công nghệ khi thực hiện dự án đường sắt tốc độ cao.
ĐBQH Hoàng Văn Cường đề nghị bắt buộc phải chuyển giao công nghệ khi thực hiện dự án đường sắt tốc độ cao.

Về lợi ích, tư lệnh ngành GTVT cho biết, ngoài đáp ứng nhu cầu vận tải, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, dự án sẽ tạo ra động lực để Việt Nam làm chủ về công nghiệp xây dựng đường sắt, nội địa hóa sản xuất phương tiện đường sắt trong các lĩnh vực thông tin, tín hiệu, công tác vận hành, bảo trì, sửa chữa…

Về vấn đề trên, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Hoàng Văn Cường nhắc lại các bài học ở dự án đường sắt đô thị Hà Nội và TPHCM. Theo ông, dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông, Nhổn - ga Hà Nội và Bến Thành - Suối Tiên do không chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn nên mỗi nơi một khác, dẫn đến bị lệ thuộc, gặp nhiều vướng mắc.

“Nếu không làm chủ được công nghệ, không xây dựng được ngành công nghiệp đường sắt thì chẳng lẽ sau này, mỗi một dự án, mỗi tuyến chúng ta lại phải đi mua và lệ thuộc vào công nghệ của từng nước hay sao? Chúng ta bỏ ra 67 tỷ USD để thực hiện dự án đường sắt tốc độ cao mà không bắt buộc chuyển giao công nghệ thì sẽ tạo gánh nặng cho thế hệ mai sau”, ông Cường nói.

Giám đốc Sở GTVT Hà Nội Nguyễn Phi Thường đề nghị lập đơn vị giám sát về chuyển giao công nghệ.
Giám đốc Sở GTVT Hà Nội Nguyễn Phi Thường đề nghị lập đơn vị giám sát về chuyển giao công nghệ.

Giám đốc Sở GTVT Hà Nội Nguyễn Phi Thường cho rằng, việc chuyển giao công nghệ rất quan trọng. Nêu thực tiễn hoạt động của các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội, ông Thường cho biết, còn nhiều tồn tại, bất cập, khó khăn cho quá trình thực hiện.

Điển hình như dự án Cát Linh - Hà Đông, từ tháng 12/2021 đến nay vẫn đang phải áp dụng đơn giá định mức tạm thời. Việc chuyển giao công nghệ mới chỉ dừng ở việc đào tạo, phục vụ vận hành tuyến. “Trường hợp phải thay thế linh kiện, đều phải phụ thuộc vào nước ngoài’, ông Thường cho biết.

“Chúng ta bỏ ra 67 tỷ USD để thực hiện dự án đường sắt tốc độ cao mà không bắt buộc chuyển giao công nghệ, không tự chủ được công nghệ thì sẽ tạo gánh nặng cho thế hệ mai sau”, Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường.

Lập đơn vị giám sát việc chuyển giao công nghệ

Theo Giám đốc Sở GTVT Hà Nội, việc chuyển giao công nghệ không chỉ dừng lại ở việc chuyển giao làm chủ khai thác vận hành mà phải bao gồm cả việc sản xuất, lắp đặt các trang thiết bị, đặc biệt là công nghệ cốt lõi như tàu điện, đường ray và hệ thống thông tin tín hiệu. “Phí chuyển giao công nghệ là một trong những khoản chi phí lớn, quan trọng cần được xác định trong dự án”, ông Thường nói.

Chung quan điểm, ông Cường cho rằng, nếu làm chủ được công nghệ thì dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam sẽ tạo ra những “lợi ích kép”, nhất là trong phát triển ngành công nghiệp đường sắt.

“Khi đó chúng ta hoàn toàn tự chủ, tự tin để chủ động thực hiện các dự án đường sắt khác theo quy hoạch, có trị giá ước tính lên đến hàng trăm tỷ USD”, ông Cường nói và cho rằng không nên quá đắn đo với chuyện đắt, rẻ mà nên nhấn mạnh đến yêu cầu về chuyển giao công nghệ.

Minh chứng cho những lợi ích to lớn từ việc làm chủ công nghệ, đại biểu Hoàng Văn Cường nhắc lại bài học kinh nghiệm thi công “thần tốc” dự án đường dây 500 kV mạch 3. Nhờ tự chủ được công nghệ nên các nhà thầu trong nước đã thực hiện đúng tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, “3 ca, 4 kíp”, giúp dự án hoàn thành với thời gian ngắn kỷ lục.

Theo vị Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, thực hiện chuyển giao công nghệ giúp “rộng cửa” cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào dự án, từ khâu thi công xây dựng, đến sản xuất hệ thống ray, toa xe…

Để thực hiện hiệu quả việc chuyển giao công nghệ, ông Thường kiến nghị yêu cầu các công ty nước ngoài tham gia đấu thầu phải liên danh với nhà thầu trong nước, phải hoàn tất đàm phán chuyển giao công nghệ với các công ty trong nước và ký hợp đồng chuyển giao công nghệ hoàn chỉnh trước khi đấu thầu.

Các công ty nước ngoài không thể ký hợp đồng chuyển giao trước khi đấu thầu sẽ bị loại. Giám đốc Sở GTVT Hà Nội đề nghị phải thành lập bộ phận kiểm tra giám sát đánh giá việc thực hiện chuyển giao công nghệ kèm theo tiêu chí đánh giá.

“Dứt khoát doanh nghiệp Việt phải làm chủ”!

Trước các vấn đề về chuyển giao công nghệ được đại biểu nêu ra, tại phiên thảo luận ở tổ về dự án này, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng cho biết, các dự án metro trước đây khi làm đều chưa có kinh nghiệm, chưa hình dung được triển khai ra sao, cộng thêm cơ chế vay vốn ODA phải ràng buộc về chọn đối tác cho vay nên rất bất lợi.

“Nếu phụ thuộc vào đối tác nước ngoài rất tốn kém. Dứt khoát doanh nghiệp Việt Nam phải đảm đương và làm chủ”. Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng

Do đó, với dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, khi lựa chọn đối tác phải theo hướng tìm được nhà thầu có chất lượng tốt, giá cả hợp lý và buộc phải chuyển giao công nghệ, không phụ thuộc vào vốn vay nước ngoài.

“Nếu có vay cũng không quá 30% tổng mức đầu tư, chia theo năm khoảng 46.000 tỷ đồng (1,85 tỷ USD/năm). Dự án chủ yếu sẽ sử dụng nguồn vốn trong nước, nếu có vay vốn nước ngoài, phải rẻ hơn trong nước và cơ chế không ràng buộc, để khi thi công không bị phụ thuộc và ràng buộc vào công nghệ”, ông Thắng khẳng định.

Theo ông Thắng, trước đây có nhiều ý kiến phải yêu cầu đối tác nước ngoài chuyển giao công nghệ. Song Chính phủ, Bộ GTVT thống nhất lựa chọn một số doanh nghiệp lớn thuộc Bộ Quốc phòng và một số doanh nghiệp tư nhân, chỉ định đây là các doanh nghiệp quốc gia nhận chuyển giao công nghệ và tham gia dự án. “Nếu phụ thuộc vào đối tác nước ngoài rất tốn kém. Dứt khoát doanh nghiệp Việt Nam phải đảm đương và làm chủ”, ông Thắng khẳng định.

Theo báo cáo của Chính phủ, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có chiều dài 1.541 km; tốc độ thiết kế 350 km/h; tổng mức đầu tư khoảng 67,34 tỷ USD. Dự kiến, dự án sẽ được khởi công vào năm 2027 và phấn đấu cơ bản hoàn thành tuyến vào năm 2035.

tienphong.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Đề xuất xăng E10 bán rộng rãi trên cả nước từ 30/4

Đề xuất xăng E10 bán rộng rãi trên cả nước từ 30/4

Liên quan đến nội dung về xăng sinh học E10, tại họp báo thường kỳ quý I/2026 của Bộ Công Thương, ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương cho biết, với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, việc đưa xăng sinh học E10 vào phân phối trong tháng 4/2026 được đánh giá khả thi.

Hướng đi bền vững cho cây chè

Hướng đi bền vững cho cây chè

Việc đẩy mạnh sản xuất chè theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học đang trở thành xu thế tất yếu tại Lào Cai, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành chè địa phương.

Lào Cai triển khai kế hoạch phát triển kinh tế nhà nước theo Nghị quyết của Bộ Chính trị

Lào Cai triển khai kế hoạch phát triển kinh tế nhà nước theo Nghị quyết của Bộ Chính trị

Ngày 08/4, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Kế hoạch số 70-KH/TU thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư duy và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Công nghiệp chế biến, chế tạo: “Đầu kéo” chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Công nghiệp chế biến, chế tạo: “Đầu kéo” chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Công nghiệp chế biến, chế tạo đang từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, để duy trì đà phát triển, lĩnh vực này đang đối mặt với những thách thức về nguyên liệu, chi phí sản xuất và năng lực doanh nghiệp.

Bản Liền vào vụ chè xuân

Bản Liền vào vụ chè xuân

Bước vào trung tuần tháng 3 đến hết tháng 4 hằng năm, xã Bản Liền lại rộn ràng vào vụ thu hoạch chè xuân - mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là thời điểm thu hút đông đảo du khách đến tham quan, trải nghiệm.

Vụ cam chín muộn

Vụ cam chín muộn

Sau Tết Nguyên đán, khi phần lớn các loại cây ăn quả có múi đã qua vụ thu hoạch, những vườn cam V2 chín muộn tại các xã Nghĩa Tâm, Chấn Thịnh mới bước vào mùa chín rộ. Trên những triền đồi xanh mướt, từng chùm cam vàng óng, căng mọng vẫn bám cành, mang theo hy vọng về một mùa quả ngọt, no ấm cho người trồng.

OCOP - mở rộng cơ hội cho phụ nữ và đồng bào vùng cao

OCOP - mở rộng cơ hội cho phụ nữ và đồng bào vùng cao

Thời gian qua, chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) trên địa bàn tỉnh được triển khai hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao giá trị sản phẩm địa phương, đồng thời mở ra cơ hội khởi nghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao.

Chủ động phòng, chống dông lốc

Chủ động phòng, chống dông lốc

Cuối tháng ba, một cơn dông lốc bất ngờ quét qua phường Cầu Thia, phường Nghĩa Lộ và các khu vực lân cận, gây thiệt hại nặng về nhà ở và tài sản của người dân. Dù chỉ diễn ra trong khoảng 30 - 40 phút, nhưng với cường độ mạnh, diễn biến nhanh, cơn dông đã để lại hậu quả nghiêm trọng, vượt ngoài dự báo thông thường.

Tiềm năng lớn của đường sắt liên vận

Tiềm năng lớn của đường sắt liên vận

Đường sắt Việt Nam hiện đang kết nối với đường sắt các nước thông qua hai cửa khẩu đường sắt là ga Đồng Đăng và ga Lào Cai. Trong tương lai, ngành đường sắt tiếp tục nghiên cứu, mở rộng kết nối với Lào và Campuchia.

Đồi chè “đón” quả mắc ca – hướng đi mới nâng cao giá trị sản xuất

Đồi chè “đón” quả mắc ca – hướng đi mới nâng cao giá trị sản xuất

Từ cây chè truyền thống, xã Liên Sơn đang từng bước chuyển mình khi đưa cây mắc ca vào trồng xen canh trên cùng diện tích. Mô hình sản xuất hai tầng cây trồng bước đầu phát huy hiệu quả, không chỉ nâng cao giá trị kinh tế mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Thác Bà tạo sự phát triển bền vững

Thác Bà tạo sự phát triển bền vững

Tận dụng lợi thế về đất đai, rừng và mặt nước, xã Thác Bà đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh. Những mô hình sản xuất hiệu quả không chỉ mở ra sinh kế ổn định mà còn giúp nhiều hộ gia đình vươn lên thoát nghèo, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.

fb yt zl tw