Tìm hướng đi bền vững cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển nhưng cũng đối mặt không ít thách thức.

Khách chọn mua các sản phẩm mây tre đan truyền thống của Hợp tác xã Mây tre đan Thủy Tuyết.
Khách chọn mua các sản phẩm mây tre đan truyền thống của Hợp tác xã Mây tre đan Thủy Tuyết.

Đây là nội dung được các đại biểu chia sẻ tại "Diễn đàn kết nối thương mại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, OCOP với hệ thống khách hàng chiến lược tại Việt Nam" do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, chiều 18/10.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, thông tin: Việt Nam có gần 1.400 làng nghề truyền thống, 774.392 cơ sở sản xuất kinh doanh tập trung nhiều ở nhóm đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thêu ren, cơ khí nhỏ; còn lại là nhóm chế biến nông lâm thuỷ sản.

Số lao động trong các làng nghề hiện đạt hơn 1,4 triệu, trong đó có hơn 91% là lao động thường xuyên. Nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhiều địa phương đã xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề; bước đầu đã phát triển theo hướng du lịch, xây dựng các mô hình, tour, tuyến du lịch nông thôn, du lịch trải nghiệm. Mẫu mã sản phẩm và vùng nguyên liệu đã được chú trọng và quan tâm. Sản phẩm từ làng nghề đã được truyền thông, xây dựng câu chuyện sản phẩm để quảng bá trong và ngoài nước. Nhiều làng nghề nổi tiếng và có nhiều nghệ nhân có tay nghề được vinh danh…

Bên cạnh đó, ngành thủ công mỹ nghệ cũng đang đứng trước nhiều thách thức như: thiếu liên kết ngành trong tổ chức sản xuất, thiếu sự liên kết giữa các hiệp hội với các doanh nghiệp, các trường đào tạo, làng nghề, nghệ nhân. Phát triển nghề, làng nghề còn mang tính tự phát, phân tán, thiếu tính bền vững, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tận dụng lao động và không gian trong các hộ gia đình là chủ yếu. Chưa có mô hình toàn diện để phát triển làng nghề gắn với đầu tư cơ sở hạ tầng, áp dụng công nghệ.

Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tuy đã cải tiến về mẫu mã nhưng tính thẩm mỹ, nghệ thuật chưa cao; sử dụng nguyên liệu ảnh hưởng đến môi trường, chưa rõ nguồn gốc… Việc truyền nghề cho thế hệ trẻ gặp nhiều khó khăn khiến không ít làng nghề bị mai một.

Theo bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, mục tiêu của Việt nam là gìn giữ và phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của làng nghề; thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, hướng tới kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt khoảng 6 tỷ USD.

"Muốn vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp tổ chức sản xuất, đào tạo phát triển nguồn nhân lực song song với bảo tồn, phát triển làng nghề", bà Nguyễn Thị Hoàng Yến nhấn mạnh.

Cụ thể, xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức liên kết sản sản xuất giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và các làng nghề; tổ chức đào tạo nghề cho lao động làm trong các làng nghề, nhất là lao động trẻ về các kiến thức khởi nghiệp, ứng dụng chuyển đổi số; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các nghệ nhân; nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho các nghệ nhân truyền nghề; duy trì và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, lan tỏa các giá trị của di sản văn hóa nghề truyền thống trong cộng đồng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Ông Vương Siêu Tín, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương, chia sẻ: Gốm sứ là nghề truyền thống tại Bình Dương nhưng hiện nay khá khó khăn cả về thị trường tiêu thụ, lao động và nguyên liệu sản xuất. Theo đó, doanh số mặt hàng gốm sứ hiện nay đang giảm khoảng 50% so với giai đoạn trước do giá cước vận chuyển quốc tế tăng cao, chi phí sản xuất tăng và nhu cầu thị trường thấp.

Không những thế, lao động trong các cơ sở gốm sứ phần lớn đều đã nhiều tuổi còn người trẻ không mặn mà với ngành này. Việc đào tạo lao động có chuyên môn liên quan ở các trường đại học cũng hạn chế. Thêm vào đó, nguồn nguyên liệu cho sản xuất gốm sứ đang ngày càng thu hẹp do quá trình quy hoạch, đô thị hoá.

Theo ông Vương Siêu Tín, số cơ sở sản xuất gốm sứ tại Bình Dương đã giảm tới 70 - 80% so với thời kỳ phát triển hoàng kim, số lao động trong mỗi cơ sở cũng giảm đáng kể. Nhu cầu thị trường có thể sẽ khả quan hơn trong thời gian tới nhưng nếu không có giải pháp căn cơ về nguồn lao động cũng như nguyên liệu sản xuất lâu dài thì ngành gốm sứ Bình Dương khó có thể duy trì và cạnh tranh được trên thị trường.

Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, cho biết: Người tiêu dùng hiện nay quan tâm nhiều hơn đến việc sản phẩm được sản xuất ở đâu và như thế nào. Các sản phẩm có thông tin minh bạch về quy trình sản xuất, chứng nhận bền vững hay có khả năng truy xuất nguồn gốc thường được ưa chuộng hơn.

Đối với nhóm hàng thủ công mỹ nghệ, người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm bền vững và thân thiện với môi trường, có tính độc đáo và cá nhân hoá, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại. Một xu hướng đáng chú ý là mua sắm trực tuyến và quốc tế hoá thị trường. Đây là cơ hội để sản phẩm của làng nghề vươn xa ra khỏi làng, biên giới quốc gia và tiếp cận với khách hàng toàn cầu.

Tuy nhiên, ông Tiến cho rằng, để khai thác được thị trường hiệu quả trong bối cảnh cạnh tranh, các làng nghề, cơ sở sản xuất phải đảm bảo việc thực hành sản xuất bền vững, minh bạch nguồn gốc xuất xứ, xây dựng được câu chuyện hấp dẫn, độc đáo cho sản phẩm.

Cùng quan điểm, ông Adam Koulaksezian, Đại diện Hiệp hội doanh nghiệp Pháp tại Việt Nam cho rằng: Việt Nam có lợi thế rất lớn cả về nguồn tài nguyên và con người khéo léo, có khả năng tạo ra rất nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ đẹp mắt. Tuy nhiên, chỉ một bộ phận nhỏ khách du lịch nước ngoài biết đến những sản phẩm này. Nguyên nhân có thể đến từ việc hạn chế trong hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm.

"Do đó, song song với việc tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước, sản phẩm làng nghề, thủ công mỹ nghệ Việt Nam cần hiện diện nhiều hơn ở các hội chợ, triển lãm quốc tế; đặc biệt, cần chú ý việc xây dựng thương hiệu thông qua câu chuyện cho thấy những giá trị khác về mặt văn hoá, lịch sử và sự sáng tạo của nghệ nhân trong từng sản phẩm", ông Adam Koulaksezian chia sẻ.

Theo baotintuc.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

 Lào Cai: Sẵn sàng cho việc cung ứng và tiêu dùng xăng E10

Lào Cai: Sẵn sàng cho việc cung ứng và tiêu dùng xăng E10

Thực hiện Thông tư 50 ngày 7/11/2025 của Bộ Công Thương về quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh và người dân đã sẵn sàng cho việc cung ứng, tiêu dùng xăng E10.

Sớm tháo gỡ khó khăn khu tái định cư Láo Vàng

Sớm tháo gỡ khó khăn khu tái định cư Láo Vàng

Từ trước Tết Nguyên đán năm 2026, đã có 19 hộ dân trong khu vực có nguy cơ xảy ra thiên tai được di chuyển đến khu tái định cư Láo Vàng, thuộc xã Phìn Ngan cũ, nay là xã Bát Xát. Tuy nhiên, sau niềm vui được về nơi ở mới, cuộc sống của người dân khu tái định cư vẫn còn bộn bề khó khăn do chưa có điện, hệ thống nước không ổn định, đường đi lại lầy lội. Cùng với đó, vẫn còn hàng chục hộ dân khác ở vùng thiên tai đang mong muốn được di chuyển về khu tái định cư trước mùa mưa bão.

Lào Cai chủ động khắc phục, khơi thông dòng chảy trước mùa mưa lũ

Lào Cai chủ động khắc phục, khơi thông dòng chảy trước mùa mưa lũ

Nhằm bảo đảm vận hành công trình hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thoát lũ và an toàn đê điều trước mùa mưa lũ, đồng thời thực hiện Văn bản số 2454/BNNMT-ĐĐ ngày 18/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh Lào Cai đã kịp thời ban hành Văn bản số 2570/UBND-NLN chỉ đạo các xã, phường khẩn trương kiểm tra, rà soát toàn diện các khu vực bãi sông, lòng sông, phạm vi bảo vệ đê điều và hệ thống công trình kè chống sạt lở bờ sông, suối trên địa bàn quản lý.

Chủ động nguồn cung, kiên quyết xử lý vi phạm kinh doanh xăng dầu

Chủ động nguồn cung, kiên quyết xử lý vi phạm kinh doanh xăng dầu

Những diễn biến địa chính trị phức tạp tại khu vực Trung Đông thời gian qua đã tác động đáng kể đến thị trường năng lượng toàn cầu. Tại tỉnh biên giới Lào Cai, áp lực này thể hiện rõ hơn khi giá xăng dầu có thời điểm tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vận tải qua cửa khẩu và hoạt động sản xuất nông nghiệp của đồng bào các dân tộc trên địa bàn.

Mở rộng hợp tác quốc tế, tạo động lực để hợp tác xã phát triển và vươn xa

Mở rộng hợp tác quốc tế, tạo động lực để hợp tác xã phát triển và vươn xa

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lào Cai đang đóng vai trò tích cực trong việc kết nối, triển khai các dự án quốc tế, đồng hành hỗ trợ các hợp tác xã trong tỉnh phát triển theo hướng bền vững. Các hoạt động tập trung vào nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường tham gia chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững. 

Đường lớn - mở lối phát triển du lịch

Đường lớn - mở lối phát triển du lịch

Những năm gần đây, việc đầu tư, nâng cấp hạ tầng giao thông tại các xã vùng cao của tỉnh Lào Cai đang tạo ra những chuyển biến tích cực. Từ những con đường cấp phối, đường xuống cấp, gập ghềnh, lầy lội vào mùa mưa, giờ đây nhiều tuyến đường đã được mở rộng, thảm nhựa, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông, giao thương và đặc biệt là mở lối cho ngành du lịch phát triển.

Khát vọng Khe Lóng 2

Khát vọng Khe Lóng 2

Sau thiên tai, sự hỗ trợ kịp thời của cấp ủy, chính quyền cùng tinh thần đoàn kết của Nhân dân đã giúp thôn Khe Lóng 2, xã Mỏ Vàng hồi sinh mạnh mẽ, từng bước thắp lên khát vọng vươn lên nơi vùng cao còn nhiều gian khó.

Phường Cam Đường triển khai hiệu quả Nghị quyết 68

Phường Cam Đường triển khai hiệu quả Nghị quyết 68

Thời gian qua, tại phường Cam Đường, việc triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã được cụ thể hóa sát với điều kiện thực tiễn, bước đầu mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhận thức và hành động trong hệ thống chính trị có chuyển biến rõ nét, mở ra không gian phát triển mới cho cộng đồng doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Bước đi chiến lược cho kinh tế dài hạn

Bước đi chiến lược cho kinh tế dài hạn

Năm 2026 được coi là “năm bản lề” của hệ thống thuế Việt Nam với hàng loạt luật mới và sửa đổi chính thức có hiệu lực như chính sách giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT), cách tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)… Tại Lào Cai, cơ quan thuế từ tỉnh đến cơ sở đang quyết liệt triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ người nộp thuế kịp thời thích nghi với các quy định mới.

Hưng Khánh: Tạo nền tảng cho nông nghiệp phát triển bền vững

Hưng Khánh: Tạo nền tảng cho nông nghiệp phát triển bền vững

Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền xã Hưng Khánh chủ động đổi mới tư duy trong lãnh đạo phát triển kinh tế, trọng tâm là chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Điểm sáng trong quá trình chuyển dịch này là đưa các loại cây dược liệu vào canh tác, tạo liên kết tiêu thụ các sản phẩm, đem lại thu nhập cao cho người dân. Qua đó, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp bền vững.

Tiếp sức cho nông dân phát triển rừng gỗ lớn

Tiếp sức cho nông dân phát triển rừng gỗ lớn

Trong định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Lào Cai đang đẩy mạnh “tiếp sức” người dân chuyển sang trồng rừng gỗ lớn, hướng đi vừa nâng cao giá trị kinh tế, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Thông qua Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF II), những cây giống chất lượng đã được trao tới các hộ nông dân tại nhiều địa phương trong tỉnh, góp phần tạo động lực để người dân từng bước thay đổi phương thức sản xuất, hướng tới sinh kế ổn định, lâu dài.

Hợp Thành mở rộng diện tích lúa chất lượng cao, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung

Hợp Thành mở rộng diện tích lúa chất lượng cao, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung

Những năm gần đây, xã Hợp Thành xác định phát triển vùng lúa chất lượng cao là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững cho người dân. Nhờ định hướng đúng đắn, sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chính quyền và sự đồng thuận của Nhân dân, việc sản xuất lúa chất lượng cao đã nhanh chóng lan tỏa, trở thành hướng sản xuất chủ đạo trong nông nghiệp địa phương.

fb yt zl tw