Tài chính, ngân hàng tại Việt Nam "chuyển mình" nhờ ứng dụng AI

Theo chuyên gia Đại học RMIT, lĩnh vực tài chính - ngân hàng Việt Nam đang có sự chuyển mình nhờ đẩy nhanh tốc độ ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI).

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) giúp các ngân hàng gia tăng hỗ trợ khách hàng

Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm, Giảng viên ngành Kinh doanh trên ứng dụng blockchain, khoa Kinh doanh, Đại học RMIT cho biết, nhiều ứng dụng trí tuệ nhân tạo - AI khác nhau đã và đang để lại dấu ấn trong ngành tài chính-ngân hàng.

Điển hình là các chatbot thông minh và trợ lý ảo có khả năng hiểu và giải quyết thắc mắc của khách hàng, cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp, tự động hóa tác vụ, phát hiện hành vi gian lận, thẩm định tín dụng và cung cấp các giải pháp hỗ trợ khách hàng tự động.

Việc tích hợp AI vào ngành tài chính đã tăng trưởng vượt bậc trong thời gian qua. Khảo sát của Diễn đàn Kinh tế thế giới vào năm 2020 cho thấy, 85% tổ chức tài chính đang đưa công nghệ AI vào hoạt động của họ tại thời điểm khảo sát, trong khi 77% giám đốc điều hành cấp cao dự đoán AI sẽ là ưu tiên cao hoặc rất cao của doanh nghiệp trong vòng 2 năm tiếp theo.

Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm, giảng viên ngành Kinh doanh trên ứng dụng blockchain, khoa Kinh doanh, Đại học RMIT.

Đáng chú ý, Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm đánh giá, lĩnh vực tài chính - ngân hàng Việt Nam đang có sự chuyển mình nhờ đẩy nhanh tốc độ ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo - AI. Thực tế, theo xu hướng toàn cầu, các ngân hàng lớn tại Việt Nam đã và đang đầu tư nghiên cứu và triển khai ứng dụng AI vào hoạt động của mình.

Đơn cử như, TPBank đã tích hợp công nghệ nhận diện khuôn mặt vào kênh ngân hàng tự động LiveBank, tăng cường bảo mật và tiện lợi cho khách hàng. VietinBank sử dụng các kios nhận dạng FaceID để nhận diện khách hàng và chuyển yêu cầu của họ tới tư vấn viên, đồng thời đóng vai trò là trợ thủ đắc lực.

Bên cạnh đó, các ngân hàng khác như Techcombank, VIB, ACB, VietABank, Nam A Bank, VPBank... đã sử dụng AI cho nhiều chức năng khác nhau, bao gồm chatbot để hỗ trợ và tương tác với khách hàng, quản lý tài sản, bảo mật, phòng chống gian lận và phân tích hành vi rút tiền ATM vào mùa cao điểm.

“Việc kết hợp công nghệ AI vào lĩnh vực ngân hàng không chỉ tối ưu hóa chi phí hoạt động mà còn tăng cường hỗ trợ khách hàng và cho phép tự động hóa quy trình hiệu quả. Công nghệ này đã chứng minh lợi thế vượt trội trong việc cách mạng hóa quản lý dữ liệu, thấu hiểu hành vi khách hàng và thúc đẩy các mối quan hệ bền vững với khách hàng”, Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm nhận xét.

Tuy nhiên, nữ giảng viên Đại học RMIT cũng chỉ ra rằng, hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều sử dụng AI truyền thống dựa trên quy tắc, vốn vượt trội trong việc xử lý các yêu cầu thông thường và hỗ trợ các giao dịch tài chính đơn giản.

Cùng với việc chỉ ra ưu điểm vượt trội của AI tạo sinh so với AI truyền thống, chuyên gia Đại học RMIT còn cho biết, ứng dụng AI tạo sinh trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế.

Ứng dụng AI tạo sinh vào lĩnh vực ngân hàng đối mặt với thách thức

Nữ giảng viên Đại học RMIT cũng chỉ ra những thách thức từ việc tích hợp AI tạo sinh một cách rộng rãi vào lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam, đó là: Việt Nam đang thiếu hệ sinh thái phát triển AI vững chắc và các chính sách hỗ trợ phù hợp, nên vẫn đang ở giai đoạn sơ khai về AI so với một số quốc gia châu Á khác.

Cùng với đó, chi phí cao của ứng dụng AI và học máy tiên tiến cũng như khan hiếm lao động lành nghề đang cản trở tiến bộ trong lĩnh vực này. Hiện nguồn cung nhân sự AI tại Việt Nam mới đáp ứng được 10% nhu cầu tuyển dụng của thị trường trong nước.

Việc tích hợp AI tạo sinh một cách rộng rãi vào lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện đang phải đối mặt với một số thách thức. (Ảnh minh họa)

Ngoài ra, theo Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm, AI tạo sinh cần lượng lớn dữ liệu chất lượng cao. Đây là trở ngại đáng kể vì tính đầy đủ, nhất quán và độ chính xác của dữ liệu ảnh hưởng đến độ tin cậy và tính minh bạch của mô hình AI.

“Các quy định nghiêm ngặt về bảo mật dữ liệu và quyền riêng tư cũng đang hạn chế khối lượng dữ liệu có thể được sử dụng để đào tạo các mô hình AI tạo sinh, khiến các mô hình này dễ bị tấn công mạng và không khai phá được hết tiềm năng. Tính không chính xác, thậm chí là sai lệch của dữ liệu đào tạo có thể bị khuếch đại bởi các mô hình AI tạo sinh, dẫn đến kết quả không tối ưu”, Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm phân tích.

Cơ sở hạ tầng nhiều lớp cũng đặt ra một thách thức khác đối với AI tạo sinh, vì loại AI này phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, dữ liệu ngân hàng và thông tin bảo mật thường bị hạn chế truy cập, khiến AI không thể thực hiện các tác vụ thanh toán đơn giản hoặc phức tạp liên quan đến thông tin khách hàng và thông tin bảo mật.

Để tích hợp AI sâu rộng hơn trong tương lai, Tiến sĩ Võ Thị Hồng Diễm cho rằng phát triển dữ liệu lớn và chất lượng cao là nhiệm vụ cần thiết với ngành ngân hàng.

Cùng với đó, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giải pháp cơ sở hạ tầng AI thống nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho các tác vụ phức tạp liên quan đến thông tin khách hàng, bảo mật và giao dịch tài chính liền mạch.

“Hơn thế, hệ sinh thái phát triển AI tại Việt Nam và các chính sách hỗ trợ vẫn cần mở rộng đáng kể để bắt kịp các nước khác ở châu Á. Các khoản đầu tư chiến lược vào cơ sở hạ tầng công nghệ, nguồn lực và nhân tài - bao gồm các nhà khoa học dữ liệu và chuyên gia học máy là rất quan trọng để các ngân hàng duy trì khả năng cạnh tranh và chuẩn bị sẵn sàng cho các xu hướng mới nổi”, nữ giảng viên Đại học RMIT nêu quan điểm.

VietNamNet

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Động lực cho đổi mới sáng tạo

Động lực cho đổi mới sáng tạo

Mô hình liên kết “3 nhà” (Nhà nước, nhà trường, nhà doanh nghiệp) trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những giải pháp được tỉnh triển khai nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Chuyển đổi số mở lối cho y tế Việt Nam bứt phá

Chuyển đổi số mở lối cho y tế Việt Nam bứt phá

Những thành tựu y học mới cùng sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại đang tạo động lực mạnh mẽ cho ngành y tế đổi mới toàn diện. Kết hợp chuyển đổi số với nâng cao chất lượng bệnh viện được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống y tế phục vụ người dân hiệu quả và bền vững hơn.

Nghị quyết số 57-NQ/TW: Đồng tốc, đồng lòng, bước ra 'vùng chính sách' để đi vào đời sống

Nghị quyết số 57-NQ/TW: Đồng tốc, đồng lòng, bước ra 'vùng chính sách' để đi vào đời sống

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, những chuyển động bước đầu cho thấy tinh thần đồng tốc trong chỉ đạo, đồng lòng trong tổ chức thực hiện. Nghị quyết 57 đang được cụ thể hóa bằng thể chế, nguồn lực và các kết quả có thể đo đếm.

Lào Cai đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phong trào “Bình dân học vụ số”

Lào Cai đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phong trào “Bình dân học vụ số”

Thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phong trào “Bình dân học vụ số”. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho cán bộ và Nhân dân, từng bước tạo nền tảng cho tiến trình chuyển đổi số trên địa bàn.

Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh “số”

Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng tỉnh “số”

Tại Lào Cai, việc triển khai nghị quyết số 57- NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là bài toán thực tiễn về tư duy, thể chế và cách làm. Sau một năm thực hiện với quyết tâm chính trị cao, cách làm bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, Nghị quyết 57 đã từng bước hình thành nền tảng cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, tạo động lực phát triển mới.

Đề án 06 – Đòn bẩy số hóa vì người dân

Đề án 06 – Đòn bẩy số hóa vì người dân

Chỉ với chiếc căn cước công dân gắn chip, người dân có thể đi khám chữa bệnh, làm thủ tục hành chính, nhận lương hưu, trợ cấp an sinh xã hội mà không cần mang theo nhiều loại giấy tờ như trước. Những thay đổi thiết thực ấy cho thấy Đề án 06 đã thực sự đi vào đời sống, phục vụ người dân hiệu quả hơn.

Lào Cai nằm trong top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai

Lào Cai nằm trong top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai

Sau 90 ngày triển khai Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo Kế hoạch số 515/KH-BCA-BNN&MT, tỉnh Lào Cai đã hoàn thành khối lượng công việc lớn, đạt kết quả nổi bật và được xếp trong top 10/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ làm sạch, xác thực và đồng bộ dữ liệu đất đai cao trên cả nước.

Lào Cai: Kinh tế số thay đổi tư duy phụ nữ vùng cao

Lào Cai: Kinh tế số thay đổi tư duy phụ nữ vùng cao

Kinh tế số đang mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho người dân Lào Cai. Trong dòng chảy ấy, phụ nữ dân tộc thiểu số ngày càng chủ động tiếp cận công nghệ, tham gia sản xuất - kinh doanh trên môi trường số, qua đó góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và khẳng định vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình, cộng đồng.

Học sinh Mù Cang Chải và dự án nâng tầm kỹ năng số

Học sinh Mù Cang Chải và dự án nâng tầm kỹ năng số

Trước làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, dự án “Thế giới số - Bước chân học sinh hiện đại” của nhóm học sinh Trường THPT Mù Cang Chải trở thành một điểm sáng. Không chỉ là sản phẩm dự thi khoa học, kỹ thuật năm 2025, dự án của em Đặng Hương Thảo lớp 12A4 và Phạm Quang Huy lớp 10A1 thể hiện nỗ lực tiếp cận công nghệ, thu hẹp khoảng cách tri thức và hỗ trợ học sinh vùng cao chuẩn bị tốt hơn cho môi trường học tập số.

Lào Cai triển khai 152 đội hình “Bình dân học vụ số”

Lào Cai triển khai 152 đội hình “Bình dân học vụ số”

Năm 2025, Tỉnh ủy Lào Cai xác định triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” là một trong những giải pháp trọng tâm, mang ý nghĩa chiến lược nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là bước đi thiết thực đưa công nghệ số đến gần hơn với người dân, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình chuyển đổi số toàn diện của tỉnh.

Dấu ấn khoa học - công nghệ trong hành trình chuyển đổi số

Dấu ấn khoa học - công nghệ trong hành trình chuyển đổi số

Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lĩnh vực riêng, mà đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong tiến trình đó, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai đã khẳng định vai trò cơ quan tham mưu chiến lược, chủ động kiến tạo và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Lào Cai - điểm hội tụ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo

Lào Cai - điểm hội tụ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo

Trong bối cảnh cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cấp bách phải đổi mới mô hình tăng trưởng, Lào Cai đang lựa chọn con đường bứt phá bằng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Đây là động lực để kiến tạo sức mạnh mới, mở ra không gian phát triển rộng lớn cho người dân và doanh nghiệp.

Lào Cai: Khai mạc Tuần lễ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo và Hội thảo “Đột phá Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số"

Lào Cai: Khai mạc Tuần lễ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo và Hội thảo “Đột phá Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số"

Sáng 29/12, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, UBND tỉnh Lào Cai tổ chức khai mạc Tuần lễ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cùng Hội thảo: “Đột phá Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số: Khởi nghiệp sáng tạo và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp”.

Xây dựng hệ sinh thái số lấy tổ chức Đảng và Đảng viên làm trung tâm

Xây dựng hệ sinh thái số lấy tổ chức Đảng và Đảng viên làm trung tâm

Sáng 29/12, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan đảng tổ chức Hội nghị tổng kết công tác chuyển đổi số trong các cơ quan đảng năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026. Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú - Trưởng Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng dự và chủ trì hội nghị.

Lào Cai: Kinh tế số chiếm 9,46% GRDP

Lào Cai: Kinh tế số chiếm 9,46% GRDP

Năm 2025, tỷ trọng kinh tế số của tỉnh đạt 9,46% GRDP, phản ánh sự dịch chuyển tích cực trong cơ cấu kinh tế. Khoảng 60% doanh nghiệp trên địa bàn đã chủ động ứng dụng các nền tảng số vào quản trị, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, qua đó tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.

fb yt zl tw