Đã đến lúc cần đưa giáo dục ở vị trí “quốc sách hàng đầu” thành năng lực cạnh tranh quốc gia: đầu tư theo kết quả, dữ liệu hóa toàn hệ thống, dự báo đúng nhu cầu nhân lực, phát hiện, nuôi dưỡng và trọng dụng nhân tài, gắn nhà trường với nền kinh tế thực.
Việc khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu không chỉ là vị trí ưu tiên của một ngành mà còn là lựa chọn về tương lai của quốc gia. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã đưa vấn đề lên một tầm mới: Giáo dục phải góp phần trực tiếp xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học-công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ Tổ quốc.
Từ "quốc sách hàng đầu" đến năng lực cạnh tranh quốc gia
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra mục tiêu mở rộng tiếp cận giáo dục và lượng hóa nhiều chuẩn đầu ra: Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương; tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%; tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%; ít nhất 35% người học theo các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ; có ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh và 20.000 người học các chương trình tài năng. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu có ít nhất tám cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á và ít nhất một cơ sở thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực vào năm 2030.
Theo Nghị quyết, mục tiêu cuối cùng còn lớn hơn những con số nêu trên, tầm nhìn đến năm 2045 xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới; mọi người có cơ hội học tập suốt đời; nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi để Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Đây là điểm cần được nhận thức đầy đủ trong toàn bộ hệ thống chính trị: Giáo dục không phải là khu vực “chi tiêu xã hội” đứng bên cạnh phát triển kinh tế; giáo dục là hạ tầng của năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và sức mạnh quốc gia.
Từ học để biết đến học để sáng tạo và phụng sự
Nếu coi giáo dục là hạ tầng phát triển quốc gia, những cải cách phải tập trung vào chất lượng đầu ra của con người. Đây cũng là lúc phải giải quyết một nghịch lý: Việt Nam có thành tích tốt ở mặt bằng học tập cơ bản, nhưng tỷ lệ học sinh đạt trình độ cao còn hạn chế. Điều đó đòi hỏi một chiến lược hai tầng nhưng thống nhất: Bảo đảm nền tảng tối thiểu cho mọi người và đồng thời tạo “đường băng” đủ dài cho những người có năng lực đặc biệt.
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đi đúng hướng khi yêu cầu đổi mới mô hình trường chuyên, trường năng khiếu để tập trung ươm tạo nhân tài quốc gia; mở rộng các lớp chuyên STEM/STEAM; tăng cường tiếng Anh; đồng thời phát triển giáo dục đại học thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Tuy nhiên, để “đào tạo nhân tài” thành một chính sách có hiệu quả, cần thay đổi cách nhìn về nhân tài và đi vào thực chất, mang lại giá trị thực qua những sáng tạo và giải pháp để đóng góp và phụng sự cho sự phát triển của đất nước. Do đó, cần xây dựng một hệ thống phát hiện-tuyển chọn-nuôi dưỡng-thử thách-trọng dụng-bảo vệ nhân tài liên tục từ phổ thông đến đại học, nghiên cứu và thị trường lao động. Mỗi tài năng phải có con đường phát triển riêng, thay vì buộc tất cả phải đi qua một khuôn mẫu, cùng với đó, cần chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đã yêu cầu tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục; phân bổ ngân sách đại học, giáo dục nghề nghiệp dựa trên sứ mạng, chất lượng và hiệu quả, ưu tiên đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra. Đây phải trở thành nguyên tắc thực chất về hiệu quả ngân sách đầu tư, chương trình đào tạo và chất lượng đầu ra. Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp bách: Trường học không chỉ chuẩn bị cho người học một nghề; phải chuẩn bị năng lực để người học có thể học lại, làm lại và sáng tạo lại nhiều lần trong cuộc đời.
Một vấn đề nổi bật là Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đặt nền tảng quan trọng khi yêu cầu xây dựng chiến lược dữ liệu phục vụ chuyển đổi số, nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng AI có kiểm soát, kết nối dữ liệu giáo dục với dữ liệu nhân lực, thị trường lao động, việc làm và khoa học-công nghệ. Từ đó hình thành một dữ liệu giáo dục quốc gia thống nhất, có thể theo dõi quá trình học tập, kỹ năng, sở trường, nhu cầu đào tạo và quá trình chuyển tiếp sang việc làm; giúp người học có thông tin tốt hơn về nghề nghiệp, giúp nhà trường điều chỉnh chương trình và giúp Nhà nước phân bổ nguồn lực đúng nơi, đúng đối tượng. Bên cạnh đó, cần xây dựng một hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia kết nối giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp với các ngành kinh tế chiến lược. Đó là lúc giáo dục thật sự trở thành một bộ phận của mô hình phát triển quốc gia, thay vì vận hành tương đối tách biệt với chiến lược kinh tế.
Đầu tư con người, tạo nền tảng quốc gia bền vững
Bước vào thời đại AI, lợi thế quyết định chuyển sang con người có năng lực tạo ra tri thức mới và biến tri thức thành giá trị. Muốn đi nhanh hơn, Việt Nam cần một cuộc chuyển đổi từ “hệ thống giáo dục” sang “hệ sinh thái phát triển con người”. Trong hệ sinh thái ấy, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, bảo đảm công bằng và những nguồn lực nền tảng; nhà trường chịu trách nhiệm về chất lượng; nhà giáo là lực lượng quyết định trực tiếp đến việc học; gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên; doanh nghiệp là nơi kiểm nghiệm năng lực và đồng thời là đối tác đào tạo; xã hội là không gian học tập rộng lớn; còn người học phải trở thành chủ thể thật sự của quá trình phát triển bản thân.
Theo đó, cải cách giáo dục không thể chỉ tập trung vào chương trình và sách giáo khoa mà phải cải cách cả năng lực lãnh đạo nhà trường, quản trị đại học và năng lực thực thi chính sách giáo dục. Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đặt ra những bước đi cụ thể: Nâng phụ cấp ưu đãi nghề cho giáo viên; hỗ trợ tài chính, tín dụng để không học sinh, sinh viên nào phải bỏ học vì khó khăn tài chính; thành lập Quỹ học bổng quốc gia; thu hút giảng viên giỏi từ nước ngoài; cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự quyết định tuyển dụng, thuê giảng viên và bổ nhiệm người giỏi từ nước ngoài; đồng thời xây dựng cơ chế mạnh để doanh nghiệp đầu tư, hợp tác công-tư và liên kết với cơ sở giáo dục… Những chính sách ấy cần được triển khai theo một nguyên tắc thống nhất: “Một mục tiêu phát triển con người-một hệ thống dữ liệu giáo dục-một chuẩn kỹ năng quốc gia-một cơ chế phát hiện nhân tài-một mạng lưới đào tạo liên thông-một cơ chế tài chính theo kết quả và một hệ thống đánh giá minh bạch”. Khi đó, “quốc sách hàng đầu” mới chuyển từ một khẩu hiệu thành năng lực vận hành của quốc gia.
Việt Nam đã đi được một chặng đường dài để phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí và tạo ra một lực lượng lao động có nền tảng tốt. Chặng đường tiếp theo khó hơn nhiều vì phải tạo ra những con người có năng lực cạnh tranh toàn cầu, nhưng có bản lĩnh và bản sắc Việt Nam; giỏi chuyên môn và giàu trách nhiệm. Đó cũng là cách giáo dục góp phần trực tiếp vào mục tiêu đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, sớm trở thành nước phát triển, thu nhập cao.