Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định 648/QĐ-TTg ngày 7/6/2023 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, phát triển hệ thống cảng hàng không theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu vận tải, hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo vệ môi trường, tiết kiệm các nguồn tài nguyên; bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 với một số mục tiêu cụ thể.

Về vận tải, tổng sản lượng hành khách thông qua các cảng hàng không khoảng 275,9 triệu hành khách (chiếm 1,5-2% thị phần vận tải giao thông và chiếm 3-4% tổng sản lượng vận tải hành khách liên tỉnh).

Tổng sản lượng hàng hóa thông qua các cảng hàng không khoảng 4,1 triệu tấn (chiếm 0,05-0,1% thị phần vận tải giao thông).

Về kết cấu hạ tầng: ưu tiên tập trung đầu tư một số cảng hàng không lớn, đóng vai trò đầu mối tại vùng thủ đô Hà Nội (Cảng hàng không quốc tế Nội Bài) và vùng Thành phố Hồ Chí Minh (Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và Long Thành); từng bước nâng cấp và khai thác có hiệu quả các cảng hàng không hiện hữu, tiếp tục nghiên cứu, đầu tư các cảng hàng không mới để nâng tổng công suất thiết kế hệ thống cảng hàng không đáp ứng khoảng 294,5 triệu hành khách, phấn đấu trên 95% dân số có thể tiếp cận tới cảng hàng không trong phạm vi 100km.

Đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, thiết bị quản lý bay theo hướng đồng bộ, hiện đại, ngang tầm khu vực, đáp ứng nhu cầu vận tải. Từng bước đầu tư các trung tâm logistics, trung tâm đào tạo, huấn luyện bay, bảo dưỡng sửa chữa máy bay và hệ thống trang thiết bị bảo đảm hoạt động bay.

Tầm nhìn đến 2050, hình thành 2 trung tâm vận tải hàng không đầu mối trung chuyển quốc tế ngang tầm khu vực tại vùng Thủ đô Hà Nội và vùng Thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tư đưa vào khai thác các cảng hàng không mới phấn đấu khoảng 97% dân số có thể tiếp cận tới cảng hàng không trong phạm vi 100km. Mở rộng, nâng cấp các cảng hàng không tại các trung tâm kinh tế vùng, bảo đảm nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.

Đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng và thiết bị bảo đảm hoạt động bay, đồng bộ, hiện đại ngang tầm quốc tế; hình thành các trung tâm đào tạo, huấn luyện bay, bảo dưỡng sửa chữa máy bay và hệ thống trang thiết bị bảo đảm hoạt động bay hiện đại.

Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, hệ thống cảng hàng không được quy hoạch theo mô hình trục nan với 2 đầu mối chính tại khu vực Thủ đô Hà Nội và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, hình thành 30 cảng hàng không.

Về Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, hệ thống cảng hàng không được quy hoạch theo mô hình trục nan với 2 đầu mối chính tại khu vực Thủ đô Hà Nội và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, hình thành 30 cảng hàng không bao gồm:

14 cảng hàng không quốc tế: Vân Đồn, Cát Bi, Nội Bài, Thọ Xuân, Vinh, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Cam Ranh, Liên Khương, Long Thành, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ và Phú Quốc; 16 cảng hàng không quốc nội: Lai Châu, Điện Biên, Sa Pa, Nà Sản, Đồng Hới, Quảng Trị, Phù Cát, Tuy Hòa, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mau, Côn Đảo, Thành Sơn và Biên Hòa (sân bay Thành Sơn và sân bay Biên Hòa được quy hoạch thành cảng hàng không để khai thác lưỡng dụng); tiếp tục duy trì vị trí quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Hải Phòng tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 640/QĐ-TTg ngày 28/4/2011.

Hình thành 33 cảng hàng không, bao gồm:

- 14 cảng hàng không quốc tế: Vân Đồn, Hải Phòng, Nội Bài, Thọ Xuân, Vinh, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Cam Ranh, Liên Khương, Long Thành, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ và Phú Quốc;

- 19 cảng hàng không quốc nội: Lai Châu, Điện Biên, Sa Pa, Cao Bằng, Nà Sản, Cát Bi, Đồng Hới, Quảng Trị, Phù Cát, Tuy Hòa, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mau, Côn Đảo, Biên Hòa, Thành Sơn và Cảng hàng không thứ 2 phía Đông Nam, Nam Thủ đô Hà Nội.

Về hệ thống bảo đảm hoạt động bay, đầu tư, hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị bảo đảm hoạt động bay tại tất cả các cảng hàng không đáp ứng yêu cầu bảo đảm hoạt động bay an toàn với tầm nhìn dài hạn, hiệu quả gắn với nhiệm vụ tham gia bảo đảm an ninh, chủ quyền vùng trời và tuân thủ các yêu cầu, tiêu chuẩn của ICAO.

Bố trí các trung tâm logistics tại các cảng hàng không có nhu cầu vận tải lớn hơn 250.000 tấn/năm. Các trung tâm logistics bảo đảm các điều kiện về kho vận và kết nối các loại hình giao thông thích hợp để vận tải hàng hóa tại các cảng hàng không gồm: Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Vân Đồn, Cát Bi, Đà Nẵng, Chu Lai, Long Thành, Cần Thơ và một số cảng hàng không khác khi có nhu cầu vận tải hàng hóa đạt tiêu chí nêu trên. Hình thành trung tâm logistics trung chuyển hàng hóa quốc tế tại cảng hàng không Chu Lai.

Bố trí các trung tâm đào tạo và huấn luyện bay với quy mô phù hợp với nhu cầu đào tạo trong nước cũng như khu vực tại các cảng hàng không có mật độ cất hạ cánh không lớn, thuận lợi về yếu tố địa hình, thời tiết cho hoạt động bay, cách khu vực biên giới trên 50 km, ưu tiên tại các cảng hàng không Chu Lai, Rạch Giá và Cà Mau.

Xây dựng các trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay tại các cảng hàng không có nhu cầu. Ưu tiên xây dựng các trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay tại các cảng hàng không lớn, có điều kiện tốt về hạ tầng, đường bay quốc tế gồm: (i) Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Chu Lai, Cam Ranh, Cần Thơ, Long Thành; (ii) Trung tâm sửa chữa lớn của khu vực tại cảng hàng không Chu Lai.

Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống cảng hàng không đến năm 2030 khoảng 420.000 tỷ đồng, được huy động từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các cảng hàng không quốc tế quan trọng, đóng vai trò đầu mối như: Long Thành, Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Quốc.

Đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các cảng hàng không tại vùng sâu, vùng xa, vùng núi, hải đảo; các cảng hàng không có hoạt động quân sự thường xuyên; và các cảng hàng không khác trong hệ thống đáp ứng nhu cầu khai thác, phát triển kinh tế-xã hội.

Theo Báo Nhân Dân

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Nhân rộng tổ hợp tác, tạo "sức bật" cho kinh tế vùng cao

Nhân rộng tổ hợp tác, tạo "sức bật" cho kinh tế vùng cao

Chú trọng vận động người dân tham gia các mô hình kinh tế tập thể, đặc biệt là tổ hợp tác, xã Mỏ Vàng đã và đang khơi dậy các ngành nghề thế mạnh từ sản xuất quế, nuôi cá nước ngọt đến dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Những mô hình liên kết này không chỉ giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho hội viên phụ nữ và người dân, mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.

Gia Hội giảm nghèo từ liên kết sản xuất

Gia Hội giảm nghèo từ liên kết sản xuất

Cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Gia Hội đã phát huy vai trò của cán bộ cơ sở, người có uy tín trong vận động người dân đổi mới sản xuất. Từ liên kết trồng, sơ chế, tiêu thụ măng tre ở thôn Tộc Cài đến chuyển đổi giống chè, phối hợp thu hoạch tại thôn Nậm Búng, những cách làm phù hợp đang góp phần nâng cao thu nhập, giúp bà con vươn lên, cải thiện đời sống.

Đưa hương quế bay xa

Đưa hương quế bay xa

Vùng đất Vĩnh Yên, xã Nghĩa Đô, cây quế giúp nhiều hộ dân có cuộc sống ấm no. Người tiên phong trong mô hình trồng quế và sản xuất tinh dầu quế là chị Lò Thị Liên, dân tộc Tày, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp và Dịch vụ Vĩnh Yên. Không chỉ nâng cao thu nhập cho gia đình, mô hình của chị Liên góp phần tạo việc làm quanh năm cho lao động ở Nghĩa Đô, phát triển chuỗi giá trị quế và đưa nông sản địa phương tiếp cận thị trường lớn.

Lào Cai: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 4 trường nội trú vùng biên

Lào Cai: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 4 trường nội trú vùng biên

Tại các xã Bản Lầu, Si Ma Cai, Trịnh Tường và Bản Vược, tỉnh Lào Cai, các nhà thầu đang tập trung nhân lực, máy móc, triển khai đồng thời nhiều hạng mục xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp thuộc giai đoạn 2. Trước những khó khăn về địa hình, vận chuyển, nguồn cung vật liệu và giải phóng mặt bằng, chủ đầu tư cùng các đơn vị thi công đang phối hợp tháo gỡ, phấn đấu hoàn thành, đưa 4 trường vào sử dụng từ ngày 30/8/2027.

Lào Cai phấn đấu hình thành từ 5 - 7 không gian kinh tế ban đêm giai đoạn 2026 - 2030

Lào Cai phấn đấu hình thành từ 5 - 7 không gian kinh tế ban đêm giai đoạn 2026 - 2030

UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 4127/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lào Cai giai đoạn 2026 - 2030, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về du lịch, thương mại, dịch vụ và bản sắc văn hóa các dân tộc; hình thành các sản phẩm du lịch đêm đặc trưng, góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu của du khách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

fb yt zl tw