Là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phát triển khu vực thật sự kinh tế nhà nước vững mạnh, đảm đương vai trò chủ đạo, tiên phong, dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển có ý nghĩa quyết định, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 của đất nước.
Nâng chất thay vì mở rộng lượng
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Kinh tế Việt Nam cho biết, qua các thời kỳ phát triển, khu vực kinh tế nhà nước luôn được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhưng tại Nghị quyết 79/NQ-TW, lần đầu tiên nội hàm, chức năng, cơ chế vận hành của các bộ phận cấu thành kinh tế nhà nước được xác định rõ ràng, cụ thể.
Theo đó, khu vực kinh tế nhà nước gồm 9 thành tố chủ yếu: Đất đai và tài nguyên khoáng sản, các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, đơn vị sự nghiệp công lập. Khi nội hàm, chức năng, cơ chế vận hành của các bộ phận cấu thành kinh tế nhà nước được xác định rõ sẽ mở ra cơ hội xử lý quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân đúng nguyên tắc thị trường. Đồng thời vai trò của Nhà nước cũng được thể hiện nổi bật thông qua hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực then chốt như ngân sách, đất đai, tài nguyên, hạ tầng, tín dụng, dự trữ quốc gia…
Vai trò của Nhà nước cũng được thể hiện nổi bật thông qua hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực then chốt như ngân sách, đất đai, tài nguyên, hạ tầng, tín dụng, dự trữ quốc gia…
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo, Đại học Kinh tế quốc dân nhận định, điểm quan trọng là Nghị quyết 79/NQ-TW đặt ra yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ khu vực kinh tế nhà nước với yêu cầu nâng chất thay vì mở rộng lượng. Đơn cử trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp; tiếp tục cơ cấu vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước… nhằm đạt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đã có một số tập đoàn nhà nước lớn trong các lĩnh vực then chốt như viễn thông, năng lượng, tài chính ngân hàng… Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 79/NQ-TW sớm được thể chế hóa và triển khai quyết liệt vào cuộc sống sẽ tạo “cú huých” để hình thành một số doanh nghiệp nhà nước đủ thế và lực vươn tầm trên đấu trường quốc tế với “thước đo” không chỉ ở quy mô tuyệt đối mà ở chất lượng quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng hội nhập quốc tế, hiệu quả sử dụng vốn. Đáng lưu ý, Nghị quyết 79/NQ-TW đặt mục tiêu 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD. Đây chính là điểm tựa chính sách quan trọng về phương thức quản trị theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, giúp doanh nghiệp nhà nước chuyển từ “quản lý” sang “quản trị” theo cơ chế thị trường, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuẩn mực quốc tế, tạo nền tảng nâng cao niềm tin của xã hội, của thị trường và của các đối tác quốc tế đối với doanh nghiệp nhà nước.
Cần cơ chế, chính sách đặc biệt
Theo các chuyên gia kinh tế, điểm nổi bật của Nghị quyết 79/NQ-TW là làm rõ khái niệm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược và vai trò dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Từ định hướng này, vấn đề rất quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 79/NQ-TW là xây dựng các cơ chế, chính sách đặc biệt và chương trình hành động cụ thể nhằm phát triển kinh tế nhà nước trong một không gian mới đã được mở rộng hơn. Trong đó, yêu cầu hoàn thiện thể chế về kinh tế nhà nước, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh cũng như nguyên tắc quản lý, phát triển đối với các thành tố của kinh tế nhà nước; tháo gỡ được những điểm nghẽn, nút thắt trong tiếp cận nguồn lực nhà nước, có chế độ đãi ngộ thu hút nhân tài, chính sách bảo vệ cán bộ để phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, có thể coi Nghị quyết 79/NQ-TW là bệ phóng thể chế mới để kinh tế nhà nước trở thành lực lượng mở đường, dẫn dắt và kiến tạo tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Thách thức lớn nhất trong việc thể chế hóa Nghị quyết 79/NQ-TW là làm thế nào chuyển hóa được tinh thần cải cách của Nghị quyết thành các quy định pháp luật đủ rõ, đủ mạnh, nhưng vẫn có sự linh hoạt cho quá trình thực thi, tránh tình trạng thiết kế chính sách theo hướng an toàn, nặng về kiểm soát rủi ro. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi và thiết lập quy trình xem xét độc lập, toàn diện, minh bạch để đánh giá bản chất vụ việc là sai sót khách quan hay vi phạm pháp luật nhằm xử lý đúng người, đúng tội. Đây là yếu tố rất quan trọng, đòi hỏi phải thật sự đổi mới tư duy quản lý, chuyển từ “sợ sai” sang “quản trị rủi ro”.
Từ góc nhìn thực tiễn, Luật sư Nguyễn Hồng Chung, Chuyên gia chính sách đầu tư, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam cho rằng, để triển khai Nghị quyết 79/NQ-TW vào cuộc sống một cách hiệu quả và thực chất, cần tập trung vào những nhóm giải pháp mang tính chất nền tảng. Đó là thống nhất tiêu chí xác định các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược của kinh tế nhà nước, đồng thời rà soát lại danh mục nắm giữ vốn nhà nước theo tiêu chí đó. Đối với doanh nghiệp nhà nước, cần thực hiện chuẩn hóa hệ thống KPI và cơ chế công bố thông tin doanh nghiệp. Đồng thời, làm sạch và đồng bộ hóa dữ liệu về tài sản nhà nước, đất đai, vốn đầu tư nhà nước; xử lý dứt điểm các dự án thua lỗ, kém hiệu quả kéo dài để khôi phục niềm tin thị trường…
Khi các giải pháp này được thực hiện hiệu quả sẽ giúp nền kinh tế phân bổ nguồn lực tốt hơn, củng cố niềm tin thị trường và kéo theo khu vực tư nhân cùng phát triển. Từ đó, góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững.