Nâng giá trị cho gạo Việt

Thương hiệu gạo Việt mờ nhạt đã làm giảm giá trị xuất khẩu, khiến nhiều thời điểm giá gạo Việt vẫn phụ thuộc vào giá gạo thế giới. Do vậy, xây dựng thương hiệu để nâng giá trị cho gạo Việt cần được quan tâm đúng mức.

Giá trị chưa tương xứng sản lượng xuất khẩu

Việt Nam luôn nằm trong top quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu gạo. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, sản lượng gạo trung bình Việt Nam xuất khẩu mỗi năm từ 6,5 - 7 triệu tấn; riêng năm 2023 Việt Nam đã xuất khẩu kỷ lục 8,1 triệu tấn gạo, với kim ngạch đạt 4,7 tỷ USD. Trong 2 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu gạo đạt 708 triệu USD, tăng 49,8%; giá gạo xuất khẩu tăng 32,2% so với cùng kỳ năm 2023.

2 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu gạo đạt 708 triệu USD. Ảnh minh họa

Về thị trường, hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang gần 160 quốc gia, vùng lãnh thổ, với thị phần chiếm đến 15% tổng lượng xuất khẩu toàn thế giới. Đáng chú ý, trong mấy năm trở lại đây gạo Việt còn đạt được thứ hạng cao trong các cuộc thi gạo quốc tế. Đơn cử là gạo ST25 đã được bình chọn là Gạo ngon nhất thế giới tại cuộc thi World's Best Rice do The Rice Trader tổ chức năm 2019 và 2023.

Tuy nhiên, thực tế thương hiệu gạo “Made in Việt Nam” vẫn còn mờ nhạt trên thị trường quốc tế. Bởi gạo Việt Nam xuất khẩu sang các nước thường được bán dưới thương hiệu của nhà phân phối, khiến người tiêu dùng không nhận biết được nguồn gốc gạo từ Việt Nam. Điển hình như tại thị trường Philippines, thị trường tiêu thụ gạo Việt lớn nhất, nhiều loại gạo khi được xuất khẩu lại được đóng bao bì của quốc gia khác nên khi đến người tiêu thụ cuối cùng, họ không biết đó là gạo Việt Nam.

Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại Philippines Phùng Văn Thành chia sẻ, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Philippines năm 2023 đạt 3,1 triệu tấn, chiếm gần 87% tổng lượng gạo nhập khẩu của nước này. Điều đáng lưu tâm là các nhà nhập khẩu gạo nước này làm nhãn mác gạo sản xuất tại Việt Nam khá mờ nhạt nên phải nhìn kỹ mới thấy. Trong khi đó, gạo Thái Lan, Nhật Bản xuất khẩu vào Philippines được nhà phân phối nước này ghi thương hiệu “Thai Rice” hoặc “Japanese Rice” rất to và rõ trên bao bì.

Theo nhận định của các chuyên gia, việc chưa xây dựng được thương hiệu cho gạo Việt cũng như thương hiệu còn mờ nhạt đã làm giảm giá trị gạo Việt Nam, khiến giá gạo Việt phụ thuộc hoàn toàn vào giá gạo thế giới. Cụ thể, trong giai đoạn 2017 - 2020, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu (sau Ấn Độ và Thái Lan), nhưng giá gạo xuất khẩu lại thấp nhất trong 5 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, chỉ đạt trung bình 481,1 USD/tấn.

Cốt lõi là xây dựng chuỗi liên kết lúa gạo bền vững

Bộ NN&PTNT đánh giá, việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giúp thương hiệu gạo Việt Nam được biết đến nhiều hơn, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam dần được mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tiêu dùng gạo cao cấp, gạo đặc sản với giá bán cao hơn so với gạo trắng, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu cho gạo Việt Nam.

Thu hoạch lúa tại An Giang.

Nhận thấy những lợi thế mà FTA mang lại, các doanh nghiệp kinh doanh gạo đã xây dựng vùng trồng, sản xuất gạo giá trị cao, có thương hiệu và từng bước tận dụng cơ hội để xuất khẩu vào châu Âu (EU), Nhật Bản… Câu chuyện của gạo Trung An, Tập đoàn Lộc Trời hay Tập đoàn Tân Long là ví dụ. Các doanh nghiệp này đã và đang xuất khẩu gạo vào những thị trường khó tính ở EU như Pháp, Anh… với bao bì “Made in Vietnam” và có giá trị cao trên 1.000 USD/tấn.

Tuy vậy, theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam Đỗ Hà Nam, dù một số doanh nghiệp này đã chú trọng việc xây dựng thương hiệu và một vài thương hiệu Việt đã có mặt trên các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, song số lượng vẫn khiêm tốn.

Do đó, để xây dựng thương hiệu gạo phải phải tổ chức lại sản xuất, áp dụng cơ giới hóa, có giống tốt đủ để cung cấp cho sản xuất; công tác bảo quản và chế biến sau thu hoạch cũng cần phải được đầu tư đúng mức. Những việc này, không thể thiếu sự hỗ trợ từ nhà nước, các cấp ngành, các hiệp hội, các nhà khoa học cùng bắt tay và liên kết với doanh nghiệp và nông dân.

Về vấn đề này, GS.TS Võ Tòng Xuân cho rằng, câu chuyện xây dựng thương hiệu gạo đã bàn rất lâu nhưng vẫn chưa có những thay đổi lớn. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc doanh nghiệp không có nguồn nguyên liệu, không có diện tích lớn nên muốn xuất khẩu gạo thì phải mua qua thương lái là chính.

Đây là khó khăn lớn để xây dựng thương hiệu gạo của Việt Nam nếu Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân không bắt tay mạnh vào việc xây dựng chuỗi liên kết lúa gạo bền vững. Giải quyết được điểm nghẽn này thì việc xây dựng thương hiệu sẽ thuận lợi, dễ dàng hơn.

Kinh tế và Đô thị

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Kinh nghiệm hay từ giải phóng mặt bằng ở phường Cam Đường

Kinh nghiệm hay từ giải phóng mặt bằng ở phường Cam Đường

Từ khi chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phường Cam Đường đã tạo nên bước đột phá trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB). Với tinh thần quyết liệt, sâu sát của cấp ủy đảng, chính quyền, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự linh hoạt, thấu tình đạt lý trong thực hiện GPMB, phường Cam Đường đã khơi thông nhiều “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm.

Đưa thuỷ sản trở thành ngành hàng giá trị

Đưa thuỷ sản trở thành ngành hàng giá trị

Với hơn 23.000 ha mặt nước, khí hậu phù hợp cho nuôi cá nước ngọt và cá nước lạnh - đó là những lợi thế để lào cai phát triển thủy sản. Từ những lồng cá trên các hồ thủy điện đến các trang trại cá hồi, cá tầm, nghề nuôi thủy sản đang từng bước khẳng định vai trò trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp địa phương. Tuy nhiên, để thủy sản trở thành ngành hàng có giá trị cao vẫn còn nhiều "nút thắt" cần được tháo gỡ.

Khai thác giá trị kép dưới tán rừng

Khai thác giá trị kép dưới tán rừng

Giữa những cánh rừng xanh của vùng cao Bắc Hà, những cây tam thất, sâm Lai Châu, thất diệp nhất chi hoa… đang từng ngày sinh trưởng. Từ lợi thế ấy, Hợp tác xã Nông nghiệp Cồ Dề Chải đã lựa chọn hướng đi khác biệt khi kết hợp phát triển dược liệu với du lịch sinh thái, chăm sóc sức khỏe. Mô hình góp phần nâng cao giá trị tài nguyên rừng, tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

Đánh thức vùng đất cằn Pha Long

Đánh thức vùng đất cằn Pha Long

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành vùng sản xuất hàng hóa và tăng cường liên kết tiêu thụ đang mở ra hướng phát triển mới cho xã biên giới Pha Long. Từ những triền đồi khô cằn, người dân từng bước gây dựng các vùng cây ăn quả, cây dược liệu và cây nguyên liệu phục vụ chế biến, tạo sinh kế bền vững, góp phần giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Kiểm tra kết quả thực hiện mô hình trồng giống dứa mới theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Bản Lầu

Kiểm tra kết quả thực hiện mô hình trồng giống dứa mới theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Bản Lầu

Ngày 03/7, Đoàn công tác Sở Khoa học và Công nghệ đã kiểm tra thực địa kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu thử nghiệm một số giống dứa có năng suất cao, chất lượng tốt và hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh đạt tiêu chuẩn VietGAP” tại xã Bản Lầu. Đề tài do Đại học Thái Nguyên thực hiện.

Cầu Pờ Hồ nối những niềm vui

Cầu Pờ Hồ nối những niềm vui

Mỗi mùa mưa đến, đồng bào các dân tộc ở các thôn Pờ Hồ, Trung Hồ, Séo Tả Lé, xã Trung Lèng Hồ cũ (nay là xã Mường Hum) lại thấp thỏm, lo lắng vì lũ từ thượng nguồn đổ về các con suối, chia cắt giao thông, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Thế nhưng từ tháng 7 năm nay, khi hai cây cầu kiên cố bắc qua suối Pờ Hồ và Trung Hồ hoàn thành, nỗi lo ấy dần lùi lại phía sau, mở ra cơ hội phát triển mới cho vùng đất dưới chân núi Pu Ta Leng.

Đánh thức giá trị đẳng sâm dưới tán rừng

Đánh thức giá trị đẳng sâm dưới tán rừng

Không mở rộng diện tích bằng cách tác động vào rừng tự nhiên, xã Lao Chải đang lựa chọn một hướng đi khác: phát triển cây đẳng sâm dưới tán sơn tra nhằm gia tăng giá trị trên cùng một diện tích đất. Từ mô hình thí điểm, địa phương kỳ vọng hình thành sinh kế bền vững, bảo tồn nguồn gen dược liệu bản địa và tạo động lực cho phát triển kinh tế xanh ở vùng cao, nơi bảo vệ rừng và phát triển sản xuất không còn là hai mục tiêu tách rời.

Bài cuối: Mở lối cho “vàng xanh”

Từ “vàng xanh” đến bài toán giá trị Bài cuối: Mở lối cho “vàng xanh”

Sau nhiều năm phát triển nóng về diện tích, ngành quế Lào Cai đang đứng trước giai đoạn mới - giai đoạn của chất lượng, của chế biến sâu và phát triển thị trường. Đó không chỉ là yêu cầu từ thực tiễn mà còn là hướng đi “bắt buộc” nếu muốn “vàng xanh” tiếp tục giữ được vị thế trong tương lai.

Chủ động sản xuất trước diễn biến thời tiết khó lường

Chủ động sản xuất trước diễn biến thời tiết khó lường

Trước diễn biến thời tiết khó lường trong vụ mùa năm 2026 nông dân trên địa bàn tỉnh đang chủ động triển khai các khâu sản xuất. Từ làm đất, gieo mạ, chăm sóc đến lựa chọn giống và bố trí thời vụ theo từng vùng, tất cả đều được thực hiện sớm nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo đảm mục tiêu gieo cấy 47.000 ha lúa mùa.

Xã Hạnh Phúc ra quân trồng cây theo mô hình nông - lâm kết hợp

Xã Hạnh Phúc ra quân trồng cây theo mô hình nông - lâm kết hợp

Ngày 30/6, xã Hạnh Phúc phối hợp với Hội Nông dân tỉnh Lào Cai, Tổ chức Bánh Mỳ cho Thế giới và Tổ chức Nghiên cứu Nông lâm quốc tế tổ chức lễ ra quân trồng cây theo mô hình nông - lâm kết hợp. Hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.

Bài 2: “Điểm nghẽn” của chuỗi quế Lào Cai

Từ “vàng xanh” đến bài toán giá trị Bài 2: “Điểm nghẽn” của chuỗi quế Lào Cai

Quế là cây trồng có giá trị kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập lớn, tạo sinh kế cho hàng chục nghìn hộ dân từ vùng thấp đến vùng cao trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, việc phát triển ngành hàng quế Lào Cai hiện vẫn đang đối mặt với một số “điểm nghẽn” lớn như: chất lượng vùng nguyên liệu chưa đồng đều; liên kết chuỗi giá trị còn yếu; chế biến sâu còn hạn chế và đặc biệt là thị trường xuất khẩu thiếu sự đa dạng…

Bài 1: “Vàng xanh” phủ kín những triền đồi

Từ “vàng xanh” đến bài toán giá trị Bài 1: “Vàng xanh” phủ kín những triền đồi

Từ vùng thấp đến vùng cao, cây quế vươn lên trở thành “vàng xanh” mang lại sinh kế cho hàng chục nghìn hộ dân và đóng góp lớn cho xuất khẩu nông - lâm sản. Nhưng phía sau sự tăng trưởng mạnh về diện tích và sản lượng là những “điểm nghẽn” về chất lượng, chế biến và thị trường. Khi giá trị vẫn dừng ở mức thấp, bài toán đặt ra là làm thế nào để ngành quế phát triển bền vững, nâng tầm trên chuỗi giá trị toàn cầu.

Lào Cai khẩn trương giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại một số địa phương

Lào Cai khẩn trương giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại một số địa phương

Những ngày nắng nóng, khi nhu cầu sử dụng nước tăng cao cũng là lúc nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt kéo dài. Trước thực trạng đó, tỉnh Lào Cai đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt trước mắt, đồng thời hướng tới mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững.

Khai thác bền vững tài nguyên nước khoáng nóng

Khai thác bền vững tài nguyên nước khoáng nóng

Giữa các bản làng phía Tây của tỉnh, những mạch nước khoáng nóng tự nhiên vẫn ngày đêm chảy từ lòng đất. Nguồn tài nguyên quý giá ấy từ lâu đã trở thành món quà thiên nhiên ban tặng cho các địa phương. Thế nhưng, trong khi người dân và doanh nghiệp khát khao biến khoáng nóng thành sản phẩm du lịch đặc sắc, thì những vướng mắc về quy hoạch và thủ tục cấp phép lại đang khiến nhiều dự án phải dừng bước.

Từ "2 giờ làm nông dân" đến những mùa vụ đổi thay ở Lao Chải

Từ "2 giờ làm nông dân" đến những mùa vụ đổi thay ở Lao Chải

Những ngày cuối tuần ở xã Lao Chải, trên những thửa ruộng bậc thang hay nương đồi phủ xanh màu cây trồng mới, hình ảnh cán bộ xã cùng bà con trực tiếp làm đất, xuống giống, chăm sóc và thu hoạch nông sản đã trở nên quen thuộc. Từ mô hình “2 giờ làm nông dân” gắn với phong trào “Ngày cuối tuần cùng dân”, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân từng bước được thu hẹp.

fb yt zl tw