Kế thừa những bài học từ Hiệp định Geneva

4-01-5086-2604.jpg
Quang cảnh Hội nghị Geneva 1954. (Ảnh tư liệu)

Ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết. Đây là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đánh dấu bước mở đầu có tính quyết định cho sự sụp đổ hệ thống thực dân trên quy mô toàn cầu, góp phần cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới; đồng thời khẳng định tính tất thắng của cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Lần đầu tiên tất cả các nước lớn đã phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Phái đoàn đàm phán Việt Nam đến Hội nghị Geneva với tâm thế của người chiến thắng. Tuy vậy, đây là lần đầu tiên chúng ta tham gia vào diễn đàn đa phương, có đại diện của năm cường quốc là Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, và Trung Quốc, trong bối cảnh tình hình thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp.

Dưới sự lãnh đạo sâu sát, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, giữ vững nguyên tắc, linh hoạt, chủ động để sau 75 ngày thương lượng, với 31 phiên họp, trong đó có tám phiên toàn thể và 23 phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn cùng với rất nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc song phương và đa phương bên lề hội nghị, để đi đến ký các hiệp định đình chỉ chiến sự, cùng các bên ra Tuyên bố cuối cùng trở thành một văn bản mang tính quốc tế cho một giải pháp kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam trên các mặt quân sự, chính trị, xã hội và pháp lý.

Nhìn lại chặng đường để đi đến ký kết Hiệp định Geneva là quá trình chiến đấu đầy gian khổ hy sinh vì mục đích độc lập, hòa bình. Cũng vì mục đích ấy mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cố tìm kiếm giải pháp hòa bình để tránh chiến tranh. Trong Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (ngày 25/11/1945) dù Đảng ta xác định: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”(1), nhưng vẫn chủ trương ngoại giao với Pháp là “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”(2).

Từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1946, đại diện Chính phủ Việt Nam đã có những cuộc gặp gỡ, nêu rõ lập trường của Việt Nam là sẽ có những nhượng bộ đối với Pháp về phương diện kinh tế, văn hóa, nhưng yêu cầu Pháp chấm dứt ngay chiến sự ở miền nam, thừa nhận nền độc lập toàn vẹn của Việt Nam. Nhưng phía Pháp chỉ coi Việt Nam là một nước tự trị nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Sau nhiều lần thương lượng, lại trước tình cảnh Pháp đã ký hiệp định với Chính phủ Trung Hoa dân quốc, cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền bắc Việt Nam; chiều 6/3/1946, tại ngôi nhà số 38 Lý Thái Tổ (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Sainteny bản Hiệp định Sơ bộ, đặt cơ sở để hai bên đi đến đàm phán chính thức.

Tuy vậy, sau hơn hai tháng tiến hành đàm phán tại Fontainebleau (từ ngày 6/7 đến 10/9/1946), do lập trường phía Pháp, cho nên cuộc đàm phán đã không đi đến kết quả. Trước tình thế đó, ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Marius Moutet - Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại bản Tạm ước 11 điều khoản, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa. Đây cũng là giải pháp đối ngoại tối ưu để bảo vệ thành quả cách mạng, tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tuy nhiên, “ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”(3), mà hơn nữa trong giới quân sự thực dân nhận định: “Việt Minh hầu như không có quân đội. Lực lượng quân sự chỉ gồm một số đơn vị tự vệ, nghĩa là một lực lượng dân quân nhỏ bé có tinh thần yêu nước. Họ không có một cơ cấu công nghiệp có thể sản xuất được vũ khí và trang thiết bị cần thiết. Hầu như hoàn toàn vắng mặt các kỹ thuật viên và cán bộ có kinh nghiệm. Họ lại không có một chỗ dựa nào ở nước ngoài…”(4), nên họ cho rằng có thể giành lấy thắng lợi bằng sức mạnh quân sự.

Điều đó cũng được thể hiện qua câu nói của Trưởng phái đoàn Pháp Max André ngạo mạn khi tuyên bố với đồng chí Phạm Văn Đồng, Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau: “Ngài thấy đó, hãy nên biết điều, ngài biết rằng trong trường hợp đàm phán thất bại, ngài sẽ thấy chiến tranh và quân đội chúng tôi sẽ đè bẹp các du kích quân của các ngài trong vài tuần…”(5).

Trước tình thế không còn con đường nào khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam nhất tề đứng lên cầm súng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, với tinh thần tự lực, tự cường, chiến đấu giành thắng lợi từng bước, đẩy thực dân Pháp từ kẻ xâm lược ngạo mạn, hy vọng đặt lại ách thống trị bằng những cuộc hành quân dạo mát, ngày càng lún sâu vào thế bị động và phải chấp nhận canh bạc liều lĩnh ở Điện Biên Phủ và phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Geneva.

Như vậy, Hiệp định Geneva là kết quả của quá trình kháng chiến đầy gian khổ hy sinh của cả dân tộc, là văn bản có tính pháp lý quốc tế công nhận thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, đã phản ánh đúng so sánh lực lượng trên chiến trường và hoàn cảnh quốc tế lúc bấy giờ; là dấu mốc quan trọng trong tiến trình đấu tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Hiệp định Geneva đã thể hiện bản lĩnh của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên tham gia vào một hội nghị đa phương, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các nước lớn tham gia hội nghị đều có mục tiêu và lợi ích riêng nhưng đoàn đàm phán của ta đã phát huy chiến thắng trên chiến trường, phát huy sức mạnh chính nghĩa của dân tộc, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược để giành được những kết quả quan trọng trên bàn hội nghị.

Bảy thập kỷ đã qua, nhưng quá trình chiến đấu giành chiến thắng để đi đến đàm phán, ký kết Hiệp định Geneva đã để lại cho chúng ta những bài học hết sức sâu sắc.

Trước hết là, bài học kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chính mục tiêu này đã quy tụ sức mạnh của cả dân tộc, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế để chúng ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc thắng lợi, là tạo nên sức mạnh để giành được kết quả trong đấu tranh ngoại giao. Đó là sự kiên trì, giành thắng lợi từng bước để đạt mục tiêu độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Thứ hai là, bài học về ứng xử linh hoạt trên nguyên tắc bất biến. Nguyên tắc bất biến của ta là độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy chưa đạt được mục tiêu, nhưng “chúng ta đạt được một hiệp định mà trong đó lần đầu tiên tất cả các nước lớn đều phải công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta, một điều mà không nước nào có được kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Rõ ràng đó là một thắng lợi rất lớn và hoàn toàn phù hợp với chủ trương của ta, lợi ích dân tộc của ta là phải bảo đảm cho được chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ”(6). Đó chính là sự ứng xử linh hoạt, nhằm đạt mục tiêu cao nhất trong đàm phán”.

Thứ ba, cần nhận định và dự báo chính xác tình hình quốc tế làm cơ sở cho tích cực chủ động trong đàm phán, vừa hợp tác vừa đấu tranh, có đối sách phù hợp cho nên tại Hội nghị Geneva ta đã đạt được hiệp định toàn diện cả quân sự, chính trị và pháp lý để giành kết quả cao nhất trong đàm phán, vượt qua tiền lệ chỉ dừng ở hiệp định đình chiến. Đây cũng là bài học hết sức sâu sắc trong giai đoạn hiện nay khi chiến lược, chính sách của các nước lớn tác động hết sức sâu sắc tình hình thế giới.

Thứ tư, bài học về sử dụng đối thoại và đàm phán hòa bình để giải quyết bất đồng, xung đột trong quan hệ quốc tế. Xuyên suốt cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta luôn tìm kiếm cơ hội và khi có thời cơ đã tận dụng đàm phán để kết thúc chiến tranh. Hội nghị Geneva đã để lại một bài học sâu sắc về giải quyết bất đồng và xung đột quốc tế bằng biện pháp hòa bình, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay đang diễn ra nhiều xung đột phức tạp.

70 năm đã trôi qua, những bài học từ Hiệp định Geneva đã được kế thừa và phát huy để tạo nên nền ngoại giao cách mạng mang “bản sắc cây tre Việt Nam”, giữ vững cục diện đối ngoại thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, góp phần khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam.

Theo nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Xử nghiêm cán bộ, đảng viên chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, sai trái, xấu độc

Xử nghiêm cán bộ, đảng viên chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, sai trái, xấu độc

Theo yêu cầu, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ kỷ luật phát ngôn; xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, đảng viên chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, thông tin sai trái, xấu độc hoặc có hành vi, phát ngôn vi phạm chuẩn mực đạo đức trên mạng xã hội.

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Giàng Thị Dung: Nâng cao trách nhiệm, tham gia góp ý sâu sắc các dự án luật

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Giàng Thị Dung: Nâng cao trách nhiệm, tham gia góp ý sâu sắc các dự án luật

Chiều 17/9, tại Hội nghị sơ kết hoạt động quý III, triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026, đồng chí Giàng Thị Dung - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai đề nghị các đại biểu Quốc hội nâng cao trách nhiệm, chủ động nghiên cứu, tham gia góp ý sâu sắc đối với các dự án luật, nghị quyết trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI; phát huy hiệu quả giám sát, tiếp xúc cử tri và theo dõi, đôn đốc giải quyết kiến nghị của cử tri, đơn thư của công dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước

Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.

Phát huy vai trò của đảng viên vùng khó

Phát huy vai trò của đảng viên vùng khó

Ở vùng khó, người trẻ rời quê đi làm xa rất phổ biến. Vì vậy, mỗi đảng viên trẻ trở về lập nghiệp, gắn bó với thôn, bản và sẵn sàng đảm nhận việc chung đều là nguồn lực quý. Thực tế cho thấy, để phát huy vai trò của đảng viên nơi vùng khó, nhất là đảng viên trẻ, cần tạo cho họ sinh kế ổn định, cơ hội cống hiến và niềm tin để trưởng thành ngay tại quê hương.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nêu 4 trọng tâm thúc đẩy kết nối thị trường, hạ tầng và chuỗi cung ứng ASEAN - Trung Quốc

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nêu 4 trọng tâm thúc đẩy kết nối thị trường, hạ tầng và chuỗi cung ứng ASEAN - Trung Quốc

Sáng 17/9, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã dự Lễ khai mạc Hội chợ Trung Quốc - ASEAN (CAEXPO) và Hội nghị Thượng đỉnh Thương mại và Đầu tư Trung Quốc - ASEAN (CABIS) lần thứ 23, diễn ra từ ngày 17-21/9.

Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài cuối: Dựng “phòng tuyến” từ lòng dân

Đi qua các bản làng dọc biên giới Lào Cai, chúng tôi nhận ra có một đường biên không hiện trên bản đồ. Đó là ranh giới giữa đúng và sai, giữa niềm tin và hoài nghi trong nhận thức mỗi người. Để giữ vững “đường biên” ấy cần xây dựng “phòng tuyến” từ lòng dân, đủ vững vàng trước thông tin sai trái, xuyên tạc.

Lào Cai: Tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm

Lào Cai: Tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm

Sáng 17/9, Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm tỉnh Lào Cai tổ chức phiên họp triển khai nhiệm vụ, đánh giá tiến độ thực hiện và bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ các dự án trên địa bàn.

Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ biên cương từ giữ lòng dân Bài 2: Thế trận lòng dân nơi biên giới

Giữ vững địa bàn biên giới gắn chặt với cuộc sống của từng thôn, bản. Ở Pha Long, Si Ma Cai, Bộ đội Biên phòng bám dân, cán bộ cơ sở trực tiếp giải quyết việc của dân, địa phương tìm hướng phát triển sinh kế để người dân yên tâm phát triển kinh tế trên quê hương. Khi người dân tin, gắn bó với bản làng và tham gia việc chung, “thế trận lòng dân” được gây dựng từ chính mỗi cộng đồng.

Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm

Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm

Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt yêu cầu phát huy tính tiền phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Với Lào Cai, yêu cầu ấy đang được đặt trong bối cảnh đặc biệt: vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tháo gỡ "điểm nghẽn" để tạo động lực tăng trưởng. 

Công an xã Lâm Giang học và làm theo Bác

Công an xã Lâm Giang học và làm theo Bác

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Công an xã Lâm Giang đang cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực, gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ. Qua đó, hình ảnh người chiến sĩ công an ngày càng được bồi đắp bằng tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và tình người.

Đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan bước sang một giai đoạn mới

Đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan bước sang một giai đoạn mới

Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, Nhà vua Thái Lan Maha Vajiralongkorn Phra Vajiraklaochaoyuhua và Hoàng hậu thăm cấp nhà nước đến Việt Nam từ ngày 14 - 16/9. Nhân dịp này, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến thăm.

Phát huy tinh thần nêu gương của đảng viên trong thời đại số

Phát huy tinh thần nêu gương của đảng viên trong thời đại số

Nếu trong đời sống thực, mỗi đảng viên đều phải ý thức trách nhiệm nêu gương, tiên phong thì trên không gian mạng, yêu cầu ấy càng trở nên rõ nét. Sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm không chỉ là kỹ năng ứng xử trong môi trường số, mà còn là biểu hiện cụ thể của bản lĩnh, đạo đức và tinh thần nêu gương của người đảng viên trong thời đại số.

fb yt zl tw