Giám sát độc lập, chấm thẩm định bài kiểm tra
Để kết quả kiểm tra chung phản ánh đúng năng lực học sinh, cần kiểm soát chặt chẽ khâu coi, chấm và có cơ chế giám sát độc lập. Theo thầy Vũ Khắc Ngọc, giáo viên môn Hóa tại Hà Nội, bên cạnh hướng dẫn chấm thống nhất, cần kiểm tra ngẫu nhiên bài đã chấm, tổ chức chấm đối chứng hoặc chấm thẩm định một tỷ lệ phù hợp, nhất là với những trường hợp có dấu hiệu bất thường.
Cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập, đủ chặt chẽ đối với toàn bộ quá trình kiểm tra. Việc thống nhất đề mới giải quyết được một phần vấn đề; chất lượng giám sát ở khâu coi, chấm và tổng hợp kết quả có ý nghĩa rất quan trọng.
Thầy Ngọc đề xuất cần có hướng dẫn chấm thống nhất, cơ chế kiểm tra ngẫu nhiên bài đã chấm, chấm đối chứng hoặc chấm lại một tỷ lệ bài phù hợp, cùng quy trình giải quyết thắc mắc rõ ràng. Không nhất thiết Sở GD&ĐT phải trực tiếp chấm lại toàn bộ bài kiểm tra, bởi cách làm này có thể tốn kém nguồn lực và khó triển khai trên diện rộng. Thay vào đó, có thể tổ chức chấm thẩm định ngẫu nhiên giữa các trường, kết hợp kiểm tra sâu những trường hợp có dấu hiệu bất thường.
Cô Nguyễn Thị Vân Hồng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Chương Dương (Hà Nội), cũng cho rằng cần xây dựng quy trình kiểm tra thống nhất, bảo đảm tính bảo mật của đề, tổ chức coi kiểm tra nghiêm túc, phân công giám thị phù hợp và có cơ chế giám sát, kiểm tra đột xuất.
Đối với khâu chấm bài, theo cô Hồng, cần có đáp án, hướng dẫn chấm và biểu điểm rõ ràng, hạn chế sự khác biệt do cách hiểu hoặc đánh giá chủ quan. Các trường có thể nghiên cứu tổ chức chấm chéo giữa giáo viên; cơ quan quản lý thực hiện chấm thẩm định một tỷ lệ bài phù hợp, nhất là tại những trường có kết quả chênh lệch đáng kể so với quá trình đánh giá thường xuyên.
Với những môn có câu hỏi tự luận, đặc biệt là Ngữ văn, thầy Đinh Đức Hiền cho rằng hướng dẫn chấm cần cụ thể về tiêu chí và mức điểm, bảo đảm thống nhất trong đánh giá nhưng vẫn tôn trọng những cách diễn đạt, lập luận hợp lý của học sinh. Với bài kiểm tra phù hợp, có thể mã hóa bài làm, tổ chức chấm chéo hoặc sử dụng công nghệ chấm trắc nghiệm để hạn chế tác động chủ quan.
Từ góc độ quản lý nhà trường, thầy Lê Quang Vui, Hiệu trưởng Trường Tiểu học – THCS Ngô Chí Quốc (TP.HCM), cho rằng khi điểm đánh giá trên lớp cao nhưng kết quả kiểm tra chung thấp, cần rà soát phương pháp giảng dạy và cách đánh giá của giáo viên. Sự chênh lệch là dấu hiệu cần tìm hiểu nguyên nhân để điều chỉnh hoạt động dạy và học, không nên vội quy kết trách nhiệm.
Giám sát điểm số phải đi cùng xác minh khách quan
Bên cạnh việc chuẩn hóa quy trình, dữ liệu kiểm tra có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện những trường hợp cần được xem xét kỹ hơn. Theo thầy Đinh Đức Hiền, Giám đốc điều hành Trường TH, THCS, THPT FPT Bắc Giang những dấu hiệu như tỷ lệ điểm 9–10 tăng đột biến, kết quả kiểm tra chung chênh lệch lớn và kéo dài so với đánh giá thường xuyên, hoặc biến động điểm số bất thường sau quá trình chấm có thể là căn cứ để tiến hành kiểm tra.
Công nghệ và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tổng hợp, phân tích dữ liệu, nhận diện những biến động cần chú ý. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ giúp phát hiện dấu hiệu, không thể thay thế việc xem xét bài làm, quy trình chấm và bối cảnh dạy học thực tế.
Thầy Vũ Khắc Ngọc lưu ý, một trường có kết quả thấp hơn mặt bằng chung có thể do nhiều nguyên nhân, từ đặc điểm đầu vào đến điều kiện dạy và học. Vì vậy, giám sát không chỉ nhằm phát hiện sự khác biệt mà còn phải tìm ra nguyên nhân thực sự. Chênh lệch giữa điểm kiểm tra chung và kết quả đánh giá thường xuyên có thể là căn cứ để xác minh, nhưng không phải bằng chứng mặc nhiên về lạm phát điểm số hay gian lận.
Cô Vân Hồng cũng cho rằng cần đối chiếu kết quả kiểm tra chung với quá trình học tập của học sinh. Nếu xuất hiện chênh lệch lớn, nhà trường và cơ quan quản lý cần phân tích nguyên nhân một cách khách quan, tránh quy kết trách nhiệm khi chưa đủ căn cứ.
Theo các nhà giáo, việc xác minh cần xem xét đồng thời chất lượng đề, cách đánh giá nội bộ, quá trình học tập và điều kiện dạy học. Nếu phát hiện sai lệch có hệ thống hoặc vi phạm quy định, cơ quan quản lý cần xử lý theo căn cứ cụ thể. Ngược lại, nếu chênh lệch xuất phát từ những nguyên nhân hợp lý, cần có giải pháp hỗ trợ phù hợp thay vì chỉ tập trung vào điểm số.
Giảm áp lực thành tích, tránh tạo cuộc đua mới
Theo thầy Vũ Khắc Ngọc, kết quả kiểm tra chung cần được sử dụng chủ yếu như một công cụ chẩn đoán chất lượng giáo dục, thay vì công cụ xếp hạng trường học.
Dữ liệu kiểm tra trước hết cần giúp nhà trường xác định học sinh đang đáp ứng yêu cầu của chương trình đến đâu, những nội dung nào còn hạn chế và phương pháp dạy học nào cần điều chỉnh. Ở cấp quản lý, kết quả tổng hợp có thể giúp nhận diện khoảng cách về chất lượng giữa các trường, các khu vực, từ đó xác định nhu cầu hỗ trợ chuyên môn và phân bổ nguồn lực phù hợp.
Thầy Ngọc không ủng hộ việc lấy điểm trung bình của một kỳ kiểm tra duy nhất làm căn cứ trực tiếp để đánh giá giáo viên, xét thi đua hoặc quy trách nhiệm cho hiệu trưởng. Nếu trường có điểm thấp bị phê bình, trường có điểm cao được khen thưởng một cách máy móc, các nhà trường có thể tiếp tục tìm cách nâng điểm để giữ thành tích, giáo viên tập trung luyện theo dạng đề và học sinh chịu thêm áp lực.
Theo một vị hiệu trưởng trường Tiểu học - THCS, nếu thành tích nhà trường chủ yếu được đánh giá qua tỷ lệ học sinh giỏi, điểm trung bình hoặc kết quả thi, trong khi giáo viên chịu áp lực về chỉ tiêu điểm số, việc hạn chế lạm phát điểm sẽ khó đạt hiệu quả bền vững.
Không ít giáo viên cũng bày tỏ băn khoăn về việc sử dụng tỷ lệ học sinh trên trung bình, tỷ lệ học sinh giỏi để xét thi đua giáo viên. Khi các chỉ tiêu vẫn ảnh hưởng lớn đến kết quả thi đua, áp lực thành tích khó được loại bỏ chỉ bằng việc thay đổi cách ra đề.
Thầy Ngọc đề xuất việc đánh giá nhà trường cần tính đến mức độ tiến bộ của học sinh, những khó khăn đang tồn tại và các biện pháp nhà trường đã thực hiện để cải thiện chất lượng dạy học. Một trường có mặt bằng điểm chưa cao nhưng học sinh tiến bộ rõ rệt, giáo viên điều chỉnh phương pháp hiệu quả vẫn cần được ghi nhận.
Đánh giá dựa trên quá trình cải thiện không có nghĩa là buông lỏng trách nhiệm. Những trường hợp thiếu trung thực trong đánh giá hoặc không thực hiện đúng quy định vẫn phải được kiểm tra, xử lý trên cơ sở căn cứ cụ thể.
Để đề chung phát huy hiệu quả, vì vậy, cần kết hợp giám sát quy trình, chấm thẩm định, phân tích dữ liệu và đổi mới cách đánh giá thành tích. Khi kết quả kiểm tra được sử dụng để nhận diện những nội dung học sinh còn yếu, điều chỉnh phương pháp dạy học và xác định nhu cầu hỗ trợ, điểm số mới thực sự phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, thay vì trở thành một áp lực thành tích mới đối với giáo viên và nhà trường.