Thị trường lợn hơi ngày 16/8 tạm thời chững lại sau chuỗi phiên giảm kéo dài. Giá thu mua tại toàn bộ 34 địa phương trong bảng khảo sát không thay đổi so với ngày trước, cho thấy thị trường đang bước vào nhịp ổn định ngắn hạn.
Giá lợn hơi hôm nay 15/8: Một nửa địa phương còn 57.000 đồng/kg
Giá lợn hơi hôm nay 15/8/2026 tiếp tục giảm tại một số địa phương, dao động 57.000–59.000 đồng/kg; Đồng Nai là nơi duy nhất còn giữ mức 59.000 đồng/kg.
Mặt bằng giá cả nước tiếp tục tập trung chủ yếu ở hai mức 57.000 và 58.000 đồng/kg. Trong đó, 17 địa phương đang giao dịch ở mức 57.000 đồng/kg, 16 địa phương ở mức 58.000 đồng/kg và chỉ Đồng Nai còn đạt 59.000 đồng/kg.
Giá lợn hơi miền Bắc: Đi ngang trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg
Thị trường miền Bắc ngày 16/8 không ghi nhận biến động mới. Giá lợn hơi tiếp tục dao động trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.
Tuyên Quang, Cao Bằng, Lào Cai và Sơn La cùng duy trì mức 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.
Các địa phương còn lại gồm Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Hưng Yên đồng loạt giữ mức 58.000 đồng/kg.
| Địa phương | Giá lợn hơi |
|---|---|
| Tuyên Quang | 57.000 đồng/kg |
| Cao Bằng | 57.000 đồng/kg |
| Thái Nguyên | 58.000 đồng/kg |
| Lạng Sơn | 58.000 đồng/kg |
| Quảng Ninh | 58.000 đồng/kg |
| Bắc Ninh | 58.000 đồng/kg |
| Hà Nội | 58.000 đồng/kg |
| Hải Phòng | 58.000 đồng/kg |
| Ninh Bình | 58.000 đồng/kg |
| Lào Cai | 57.000 đồng/kg |
| Lai Châu | 58.000 đồng/kg |
| Điện Biên | 58.000 đồng/kg |
| Phú Thọ | 58.000 đồng/kg |
| Sơn La | 57.000 đồng/kg |
| Hưng Yên | 58.000 đồng/kg |
Như vậy, miền Bắc không còn địa phương nào đạt 59.000 đồng/kg. Trong 15 địa phương khảo sát, có tới 11 nơi cùng đứng ở mức 58.000 đồng/kg.
Giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên: 8 địa phương ở mức 57.000 đồng/kg
Tại miền Trung - Tây Nguyên, thị trường tiếp tục đi ngang trong khoảng 57.000–58.000 đồng/kg.
Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Khánh Hòa cùng giao dịch ở mức thấp nhất 57.000 đồng/kg.
Hà Tĩnh, Gia Lai và Lâm Đồng là ba địa phương có giá cao nhất khu vực, cùng đạt 58.000 đồng/kg.
| Địa phương | Giá lợn hơi |
| Thanh Hóa | 57.000 đồng/kg |
| Nghệ An | 57.000 đồng/kg |
| Hà Tĩnh | 58.000 đồng/kg |
| Quảng Trị | 57.000 đồng/kg |
| Huế | 57.000 đồng/kg |
| Đà Nẵng | 57.000 đồng/kg |
| Quảng Ngãi | 57.000 đồng/kg |
| Gia Lai | 58.000 đồng/kg |
| Đắk Lắk | 57.000 đồng/kg |
| Khánh Hòa | 57.000 đồng/kg |
| Lâm Đồng | 58.000 đồng/kg |
Miền Trung - Tây Nguyên tiếp tục là khu vực có mặt bằng giá thấp và khá đồng đều. Biên độ giữa nơi cao nhất và thấp nhất chỉ còn 1.000 đồng/kg.
Giá lợn hơi miền Nam: Đồng Nai duy nhất đạt 59.000 đồng/kg
Thị trường miền Nam ngày 16/8 cũng không xuất hiện biến động mới.
Đồng Nai tiếp tục giữ giá 59.000 đồng/kg. Đây không chỉ là mức cao nhất miền Nam mà còn là mức cao nhất trên toàn quốc.
TP.HCM và Vĩnh Long cùng giao dịch ở mức 58.000 đồng/kg.
Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ duy trì mức 57.000 đồng/kg.
| Địa phương | Giá lợn hơi |
| Đồng Nai | 59.000 đồng/kg |
| Tây Ninh | 57.000 đồng/kg |
| Đồng Tháp | 57.000 đồng/kg |
| An Giang | 57.000 đồng/kg |
| Cà Mau | 57.000 đồng/kg |
| TP.HCM | 58.000 đồng/kg |
| Vĩnh Long | 58.000 đồng/kg |
| Cần Thơ | 57.000 đồng/kg |
Với mức 59.000 đồng/kg, Đồng Nai đang cao hơn 2.000 đồng/kg so với nhóm địa phương thấp nhất tại miền Nam.
Giá lợn hơi cả nước ổn định ở 57.000–59.000 đồng/kg
Tổng hợp thị trường ngày 16/8, giá lợn hơi trên cả nước tiếp tục dao động trong khoảng 57.000–59.000 đồng/kg.
| Khu vực | Giá thấp nhất | Giá cao nhất |
| Miền Bắc | 57.000 đồng/kg | 58.000 đồng/kg |
| Miền Trung - Tây Nguyên | 57.000 đồng/kg | 58.000 đồng/kg |
| Miền Nam | 57.000 đồng/kg | 59.000 đồng/kg |
| Cả nước | 57.000 đồng/kg | 59.000 đồng/kg |
So với ngày 15/8, toàn bộ 34 địa phương giữ nguyên giá, không ghi nhận nơi nào tăng hoặc giảm.
Đáng chú ý, 17/34 địa phương đang ở mức 57.000 đồng/kg, chiếm một nửa số địa phương trong bảng khảo sát. Có 16 địa phương giữ mức 58.000 đồng/kg và chỉ một địa phương đạt 59.000 đồng/kg.
Cơ cấu này cho thấy sau chuỗi giảm kéo dài, thị trường đang hình thành mặt bằng khá rõ quanh 57.000–58.000 đồng/kg. Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất trên toàn quốc chỉ còn 2.000 đồng/kg.
Việc giá tạm thời đi ngang có thể giúp người chăn nuôi có thêm thời gian quan sát cung - cầu trước khi quyết định xuất bán hoặc tái đàn. Tuy nhiên, khi mặt bằng giá đã xuống thấp hơn đáng kể so với đầu tháng, việc kiểm soát chi phí thức ăn, con giống và phòng dịch vẫn đóng vai trò quan trọng.
Ở góc độ tiêu dùng, giá lợn hơi ổn định chưa đồng nghĩa giá thịt lợn bán lẻ tại chợ và siêu thị sẽ đứng yên hoàn toàn. Giá đến tay người mua còn phụ thuộc vào chi phí giết mổ, vận chuyển, bảo quản và phân phối.