Đẩy mạnh chế biến, thương mại gỗ và lâm sản

Cùng với Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thuỷ lợi; Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là một trong những quy hoạch mang tính chiến lược, quan trọng của ngành nông nghiệp vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

img-5955-1-8207-195.jpg
Đẩy mạnh chế biến, thương mại gỗ và lâm sản.

Ngày 1/4/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 523/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Sau hơn ba năm thực hiện, cơ cấu sản xuất lâm nghiệp đã chuyển dịch theo hướng ngày càng nâng cao giá trị gia tăng. Phó Cục trưởng Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Triệu Văn Lực cho biết, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, các giải pháp phát triển đã được ngành lâm nghiệp triển khai toàn diện, đồng bộ.

Cơ cấu sản xuất lâm nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng ngày càng nâng cao giá trị gia tăng, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng ổn định bình quân 4,6%/năm. Hằng năm, cả nước trồng mới được hơn 260.000 ha rừng. Chất lượng rừng trồng được nâng cao, cung cấp từ 70-75% nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến lâm sản để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt bình quân 15,8 tỷ USD/năm, tỷ lệ xuất siêu cao.

Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đạt bình quân 3.650 tỷ đồng/năm. Riêng năm 2023 đã thu được 4.130 tỷ đồng, trong đó có gần 1.000 tỷ đồng từ bán tín chỉ carbon rừng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng, giảm áp lực chi ngân sách nhà nước. Theo Cục Lâm nghiệp, tổng kinh phí huy động thực hiện Chiến lược giai đoạn 2021-2023 để bảo vệ và phát triển rừng vào khoảng 56,7 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nguồn chi từ ngân sách nhà nước gần 12,6 nghìn tỷ đồng, thu dịch vụ môi trường rừng gần 11 nghìn tỷ đồng và các tổ chức, cá nhân tự đầu tư hơn 33 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng còn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Đó là, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch ba loại rừng còn chồng chéo, thiếu tính đồng bộ; công tác giao rừng, thuê rừng còn chậm triển khai; năng suất, chất lượng rừng trồng còn thấp. Mức hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng cũng như chế độ, chính sách đối với lực lượng bảo vệ rừng còn quá thấp, chưa thật sự tạo động lực cho bảo vệ và phát triển rừng. Nhiều địa phương chưa quan tâm đầu tư, bổ sung ngân sách cho bảo vệ và phát triển rừng.

Để huy động tốt hơn nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, ngày 24/8/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 895/QĐ-TTg, phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, về phát triển sản xuất lâm nghiệp, tập trung bảo vệ rừng; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chọn tạo giống mới có năng suất, chất lượng cao, giống cây bản địa mọc nhanh có năng suất, chất lượng phục vụ phát triển rừng sản xuất, rừng gỗ lớn.

Đẩy mạnh sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp năng suất, chất lượng.

Bảo đảm cung cấp bình quân 575 triệu cây/năm. Quản lý chặt chẽ nguồn cung giống, bảo đảm tỷ lệ nguồn cây giống cho trồng rừng được kiểm soát đạt tối thiểu 95% vào năm 2030. Hỗ trợ xây dựng các khu rừng giống, trung tâm giống công nghệ cao dựa trên nhu cầu giống cây lâm nghiệp của từng vùng, với các sản phẩm giống cây trồng chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng từ 5 đến 7 khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao; trong mỗi khu có phân khu sản xuất giống công nghệ cao, công suất khoảng 200 triệu cây/năm.

Đẩy mạnh phát triển lâm sản ngoài gỗ. Tăng cường các biện pháp bảo vệ, phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị, các loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng; khai thác hợp lý và bền vững các loại lâm sản ngoài gỗ; hình thành các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ, tạo ra những sản phẩm đặc trưng cho từng vùng và phù hợp với nhu cầu của thị trường; tập trung ưu tiên phát triển nhóm sản phẩm dược liệu, mỹ phẩm, thực phẩm.

Đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng. Tập trung quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ quản lý rừng. Phấn đấu đến năm 2025, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt khoảng 500 nghìn ha và sẽ đạt khoảng 1 triệu ha vào năm 2030. Khai thác gỗ từ rừng trồng, cây lâm nghiệp trồng phân tán, vườn nhà, vườn cây cao su thanh lý: đến năm 2025 đạt 35 triệu m3 gỗ và 50 triệu m3 gỗ vào năm 2030.

Phát triển dịch vụ môi trường rừng, tiếp tục thực hiện các loại dịch vụ môi trường rừng hiện có; nghiên cứu, mở rộng thêm các loại hình, đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng, như dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí và nuôi trồng thủy sản... Phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ và phát triển rừng.

Rà soát, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách hiện hành, tạo điều kiện để phát triển du lịch sinh thái tại các khu rừng gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương; huy động nguồn lực xã hội trong phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ và phát triển rừng. Chính phủ yêu cầu ngành lâm nghiệp, quy hoạch đặt mục tiêu duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định từ 42% đến 43%, chú trọng nâng cao chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên hiện có. Tốc độ tăng giá trị gia tăng sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 5,0-5,5%/năm.

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Đẩy mạnh chế biến, thương mại gỗ và lâm sản, tập trung ưu tiên sử dụng trang thiết bị hiện đại, tự động hoá, chuyên môn hoá. Khuyến khích phát triển công nghệ tạo ra các sản phẩm chất lượng, có giá trị gia tăng cao. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới nội dung chương trình đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn; đào tạo trên cơ sở đặt hàng và nhu cầu của doanh nghiệp. Ưu tiên ngân sách nhà nước cho đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất cho các đơn vị đào tạo.

Ưu tiên phát triển trung tâm giao dịch gỗ tại các khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao; xây dựng một trung tâm giao dịch sản phẩm gỗ quốc tế; xây dựng các chương trình, kế hoạch xúc tiến thương mại, phát triển thị trường. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ USD vào năm 2025 và 25 tỷ USD vào năm 2030. Giá trị tiêu thụ đồ gỗ và lâm sản trong nước đạt 5 tỷ USD vào năm 2025 và 6 tỷ USD vào năm 2030.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự kiến tổng nhu cầu nguồn vốn thực hiện Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là 217.305 tỷ đồng, trong đó riêng giai đoạn 2021-2025 cần khoảng gần 107.000 tỷ, chiếm gần 50% tổng nhu cầu vốn...

Theo nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Giảm thuế cho hộ kinh doanh, nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài

Giảm thuế cho hộ kinh doanh, nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài

Nghị quyết số 43/2026/QH16 quy định giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng trong năm 2026 và 2027, qua đó hỗ trợ hoạt động kinh doanh nhưng cũng đặt ra áp lực nhất định đối với nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn.

Ngành quế 8 tháng năm 2026: Thị trường nào đang thay thế dần "ngôi vương" châu Á?

Ngành quế 8 tháng năm 2026: Thị trường nào đang thay thế dần "ngôi vương" châu Á?

Hoạt động xuất khẩu quế của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 ghi nhận khối lượng đi ngang so với cùng kỳ năm trước, nhưng đang diễn ra sự dịch chuyển đáng chú ý về thị trường tiêu thụ. Trong khi nhu cầu tại các thị trường truyền thống thuộc khu vực châu Á có dấu hiệu sụt giảm, xuất khẩu quế sang châu Mỹ, châu Âu và châu Phi lại tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần bù đắp lượng sụt giảm và giữ vững đà phát triển cho ngành hàng.

Thiếu nhân lực - "nút thắt" trong giải phóng mặt bằng

Thiếu nhân lực - "nút thắt" trong giải phóng mặt bằng

Giải phóng mặt bằng là khâu then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai nhiều công trình, dự án. Tuy nhiên, tại cơ sở, khối lượng công việc ngày càng lớn trong khi đội ngũ cán bộ làm công tác đất đai, giải phóng mặt bằng còn thiếu, nhất là cán bộ có chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn. Thiếu nhân lực đang trở thành một trong những “nút thắt” cần sớm được tháo gỡ.

Lào Cai tăng cường quản lý, chống thất thu ngân sách nhà nước

Lào Cai tăng cường quản lý, chống thất thu ngân sách nhà nước

Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động, các phương thức kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp, công tác quản lý thu ngân sách nhà nước đứng trước không ít thách thức. Nhận thức rõ điều này, tỉnh Lào Cai đã triển khai những giải pháp quyết liệt, đồng bộ nhằm siết chặt kỷ cương, tăng cường quản lý, chống thất thu ngân sách, bảo đảm nguồn lực tài chính cho sự phát triển bền vững của địa phương.

Lào Cai có 3 nông dân được công nhận “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới” năm 2026

Lào Cai có 3 nông dân được công nhận “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới” năm 2026

Trong số 96 nông dân tiêu biểu thuộc 34 tỉnh, thành phố được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công nhận danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới” năm 2026, Lào Cai có 3 hội viên được vinh danh nhờ những thành tích nổi bật trong phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và đóng góp cho cộng đồng.

Thu hồi tài sản công sau sắp xếp bộ máy, tránh “trụ sở bỏ không”

Thu hồi tài sản công sau sắp xếp bộ máy, tránh “trụ sở bỏ không”

Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính, bài toán đặt ra không chỉ là tinh gọn đầu mối, bố trí lại con người mà còn phải xử lý hiệu quả khối lượng lớn tài sản công dôi dư. Tỉnh Lào Cai có 604 cơ sở nhà, đất được xác định cần xử lý. Đến ngày 4/9/2026, tỉnh đã xử lý, khai thác 561 cơ sở; 43 cơ sở còn lại dự kiến hoàn thành trong tháng 9.

Rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Gia Phú và Võ Lao

Rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Gia Phú và Võ Lao

Ngày 8/9, tại xã Gia Phú, Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai làm việc với UBND các xã Gia Phú và Võ Lao nhằm rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng Bộ đơn giá bồi thường thực tế về nhà, nhà ở, công trình xây dựng và bồi thường chi phí tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.

Giá lợn hơi ngày 9/9/2026: Miền Bắc giữ đỉnh 60.000 đồng, miền Nam lặng sóng chờ tín hiệu

Giá lợn hơi ngày 9/9/2026: Miền Bắc giữ đỉnh 60.000 đồng, miền Nam lặng sóng chờ tín hiệu

Thị trường lợn hơi toàn quốc hôm nay ghi nhận nhịp biến động cục bộ khi sắc xanh tăng giá chỉ xuất hiện duy nhất tại Gia Lai với mức nhích nhẹ 1.000 đồng/kg, trong khi toàn bộ các địa phương còn lại rơi vào trạng thái lặng sóng. Mặt bằng giá thu mua chung trên cả nước tiếp tục duy trì trong khoảng 57.000 - 60.000 đồng/kg. Bức tranh cung - cầu ổn định nhưng tiềm ẩn đầy sóng ngầm bởi rủi ro dịch bệnh lây lan và áp lực chi phí đầu vào tăng cao.

fb yt zl tw