Đảm bảo truy xuất nguồn gốc cho nông sản xuất khẩu

Truy xuất nguồn gốc nông sản hiện nay là yếu tố quan trọng để quyết định nông sản có thể tham gia vào chuỗi liên kết, cung ứng nông sản an toàn cho doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Sầu riêng được phân loại kỹ càng theo tiêu chuẩn khắt khe (6 trái/thùng) trước khi được đóng thùng để xuất khẩu đi Trung Quốc. Ảnh minh họa

Từ đó hình thành nên lòng tin và sự an tâm của người tiêu dùng khi lựa chọn nông sản Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, thủy sản và cây ăn trái chủ lực cho xuất khẩu nên việc quản lý hiệu quả truy xuất nguồn gốc nông sản càng trở nên cần thiết.

Tấm thẻ bài bảo vệ hàng hóa

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến nay, cả nước có 6.883 mã số vùng trồng xuất khẩu đã được cấp cho 25 sản phẩm (phân bố tại 54/63 tỉnh, thành phố) sang 11 thị trường; trong đó, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có số lượng mã số vùng trồng lớn nhất cả nước với 3.975 mã (chiếm 57%) đang hoạt động. Riêng Đồng Tháp có 2.469 mã số vùng trồng được cấp, lớn nhất cả nước, Tiền Giang có 528 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, Bến Tre có 84 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.

Theo ông Nguyễn Văn Mẫn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, 528 mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói của tỉnh thực hiện đúng các quy định hiện hành; trong đó, mã số vùng trồng được cấp sang thị trường Trung Quốc là 183, diện tích gần 19.151 ha, với 7 chủng loại cây trồng, gồm: Mít, thanh long, xoài, dưa hấu, chôm chôm, nhãn và sầu riêng. Tiền Giang có 307 mã số cơ sở đóng gói đã được cấp phục vụ xuất khẩu, cụ thể là thị trường Trung Quốc có 299 mã số, các thị trường khó tính có 8 mã số.

Để quản lý chặt mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang đã lập các đoàn kiểm tra liên ngành nhằm kiểm tra việc chấp hành quy định về sử dụng và duy trì các điều kiện, yêu cầu của mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Thêm vào đó, Tiền Giang đang triển khai xây dựng thí điểm phần mềm cơ sở dữ liệu quản lý vùng trồng sầu riêng tại một số địa phương trồng sầu riêng trọng điểm. Theo đó, phần mềm thể hiện các thông tin của vùng trồng sầu riêng thành bản đồ, làm cơ sở nhân rộng bản đồ hóa toàn bộ vùng trồng sầu riêng và các cây trồng chủ lực của tỉnh.

Còn tại Bến Tre, tỉnh hiện có 41 vùng trồng được cấp 84 mã số. Một số loại nông sản đã xây dựng mã số vùng trồng như: dừa xiêm xanh, bưởi da xanh, chôm chôm, xoài, sầu riêng… đã được xuất khẩu sang châu Âu, Hoa Kỳ, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc; trong đó có có 41 vùng trồng xuất khẩu, với 84 mã số đang hoạt động, diện tích hơn 671 ha. Bưởi da xanh có 23 vùng trồng gắn 51 mã số. Chôm chôm có 3 vùng trồng gắn 6 mã số. Xoài có 4 vùng trồng gắn 16 mã số. Sầu riêng có 10 vùng trồng gắn 10 mã số. Nhãn có 1 vùng trồng gắn 1 mã số.

Theo ông Võ Văn Nam, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Bến Tre, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói như những tấm thẻ bài đảm bảo cho truy xuất nguồn gốc của các nông sản xuất khẩu. Do đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre đã ban hành công văn về việc tăng cường quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, nêu rõ vai trò của các bên có liên quan trong công tác quản lý; trong đó, các địa phương theo dõi tình hình sản xuất tại vùng trồng, thực hiện quản lý mã số vùng trồng tại địa bàn.

Đặc biệt, khi có phát sinh liên kết sản xuất tiêu thụ không ổn định hoặc các dấu hiệu không trung thực trong việc sử dụng mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói thì báo cáo về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre thông qua Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh để phối hợp giải quyết…

Tuân thủ quy định

Với những người tiêu dùng thông minh hiện nay, băn khoăn về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm khi lựa chọn một loại thực phẩm nào đó là điều tất yếu, bởi xu thế đặt sức khỏe lên hàng đầu và phòng chống bệnh tật cho con người, cũng như môi trường sống trở thành yêu cầu cấp thiết.

Theo Đại diện Tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO), tính thiết yếu trong minh bạch sản phẩm sẽ là yếu tố để nông sản, thực phẩm được lựa chọn. Trên mỗi sản phẩm được bán ra có mã truy xuất được in trên bao bì, khi người tiêu dùng muốn biết đầy đủ thông tin về món hàng đã mua, truy ngược dòng từ thành phẩm cuối cùng về nơi sản xuất ban đầu, rà soát từng công đoạn trong chế biến và phân phối có thể dùng mã đó để kiểm tra. Họ có thể gõ mã truy xuất trên trang web của sản phẩm để tìm thông tin; hoặc dùng điện thoại thông minh có cài đặt phần mềm truy xuất để quét lên mã truy xuất được in trên bao bì của sản phẩm. Không những vậy, xu hướng hiện nay là các nhà nhập khẩu trên thế giới luôn muốn biết nơi sản xuất và những nơi sản phẩm đi qua.

Điều này càng thể hiện rõ hơn với những thị trường nhập khẩu nông sản từ các quốc gia khác; trong đó có Việt Nam. Ông Đỗ Thanh Hiệp, Giám đốc Hợp tác xã thanh long Hoà Lệ, Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận cho biết, khi mua một trái thanh long của Hợp tác xã Hòa Lệ, người tiêu dùng sẽ truy xuất được những thông tin theo chuỗi như lô sản xuất, do đơn vị sản xuất, các loại phân và thuốc đã bón cho cây, thời điểm sử dụng và đơn vị sản xuất, các loại giấy chứng nhận... hay những thông tin giao dịch về ngày thu hoạch, sản xuất, đóng gói, hạn sử dụng... Tất cả đều được ghi nhật ký theo thời gian thực, ngày giờ với con số rõ ràng. Đây là yếu tố thuyết phục người tiêu dùng trong nước và thế giới nhanh nhất khi trái thanh long Hoà Lệ được lựa chọn.

Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận chia sẻ, đến nay, Bình Thuận đã có rất nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện hiệu quả việc xây dựng thương hiệu sản phẩm trên thị trường gắn với việc dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm như Hợp tác xã thanh long Hòa Lệ, các sản phẩm hải sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hải Nam, nước mắm Phan Thiết…

Có thể thấy, sản phẩm có dán tem truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần bảo vệ được thương hiệu, nâng tầm giá trị của doanh nghiệp, hợp tác xã. Từ đó tăng tính cạnh tranh, kích thích người tiêu dùng mua hàng, tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư. Đây cũng là nền tảng để xuất khẩu hàng hóa đi quốc tế, bảo vệ cộng đồng, tẩy chay hàng giả, hàng nhái ra khỏi thị trường Việt Nam.

TTXVN/Báo Tin tức

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

 Nâng cao giá trị và sinh kế bền vững

Phát triển kinh tế rừng ở Lào Cai: Nâng cao giá trị và sinh kế bền vững

Ngày Quốc tế về rừng (21/3) năm 2026 với chủ đề “Rừng và phát triển kinh tế bền vững” cho thấy một yêu cầu rõ ràng: rừng không chỉ để bảo vệ, mà còn phải tạo ra giá trị. Tại Lào Cai, cách tiếp cận này đang dần được cụ thể hóa khi rừng được nhìn nhận như một nguồn lực cho tăng trưởng xanh và sinh kế của người dân.

Sớm đưa xăng E10 tiêu thụ đồng loạt trên thị trường

Sớm đưa xăng E10 tiêu thụ đồng loạt trên thị trường

Tình hình chiến sự tại khu vực Trung Đông diễn biến ngày càng phức tạp, làm đứt gãy chuỗi cung ứng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ với an ninh năng lượng thế giới cũng như tại Việt Nam. Để bảo đảm nguồn cung nhiên liệu, các ngành chức năng và doanh nghiệp đã chủ động nhận diện những tác động xấu, qua đó sẵn sàng ứng phó mọi tình huống.

Cố gắng giữ mặt bằng giá xăng dầu

Cố gắng giữ mặt bằng giá xăng dầu

Trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới còn nhiều biến động, áp lực lên thị trường trong nước là điều khó tránh khỏi. Cơ quan điều hành vẫn đang nỗ lực triển khai nhiều giải pháp phối hợp, từ điều chỉnh thuế, phí đến bảo đảm nguồn cung nhằm giữ mặt bằng giá ổn định và hạn chế tác động tiêu cực đến đời sống người dân cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Dỡ “rào cản” để thoát nghèo

Dỡ “rào cản” để thoát nghèo

Xã Trạm Tấu nơi địa hình bị chia cắt mạnh bởi suối sâu và núi cao. Nhiều thôn, bản cách trung tâm xã hàng chục km đường rừng. Trong thời gian dài, giao thông luôn là “rào cản” lớn nhất khiến mọi nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội của người dân gặp nhiều khó khăn.

Tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng lao động

Tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng lao động

Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhu cầu tuyển dụng lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn ở mức cao. Nhiều doanh nghiệp cần bổ sung nhân lực mở rộng sản xuất, đồng thời bù đắp số lao động nghỉ việc hoặc chuyển việc sau Tết. Tuy nhiên, dù đã đưa ra nhiều chính sách đãi ngộ về lương, thưởng và phúc lợi, không ít doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động.

fb yt zl tw