Gắn bó với vùng chè Shan tuyết Suối Giàng hơn 30 năm, cựu chiến binh Lâm Thị Kim Thoa, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã chè Suối Giàng, xã Văn Chấn, hiểu rõ những thăng trầm của cây chè và đời sống người dân nơi đây.
Trước khi bước vào sản xuất, kinh doanh, bà từng có hơn hai năm công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh. Quãng thời gian trong quân ngũ giúp bà hình thành tính kỷ luật, sự tự tin và nghị lực để vượt qua những khó khăn trong quá trình xây dựng hợp tác xã.
Khi mới đến Suối Giàng, bà Thoa chứng kiến những cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi chưa phát huy được giá trị tương xứng. Giao thông cách trở, kỹ thuật chế biến còn hạn chế, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nhỏ lẻ, đầu ra và giá cả thiếu ổn định, đời sống của nhiều hộ trồng chè còn khó khăn.
Trăn trở trước thực tế đó, năm 2007, bà vận động người dân thành lập hợp tác xã chè Suối Giàng, với thành viên chủ yếu là đồng bào Mông. Các hộ trồng chè chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết với hợp tác xã, chú trọng hơn đến kỹ thuật thu hái, bảo quản nguyên liệu; những diện tích chè suy thoái được quan tâm phục hồi, ý thức bảo vệ những cây chè cổ thụ cũng được nâng lên.
Hợp tác xã đầu tư nhà xưởng, thiết bị chế biến, mời chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật, từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất. Đến nay, nhà xưởng đáp ứng tiêu chuẩn HACCP; các sản phẩm chè được gắn mã QR truy xuất nguồn gốc, trong đó có 4 sản phẩm đạt OCOP 4 sao.
Hiện, hợp tác xã duy trì việc làm thường xuyên cho 10 lao động với thu nhập bình quân khoảng 8 triệu đồng/người/tháng. Quan trọng hơn, hoạt động thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm góp phần duy trì sinh kế cho các hộ trồng chè trong vùng nguyên liệu. Hằng năm, hợp tác xã đóng góp trên 30 triệu đồng vào các quỹ của địa phương.
Cũng lựa chọn phát triển kinh tế từ những điều kiện sẵn có, tại thôn Đào Kiều, xã Yên Bình, cựu chiến binh Lê Ngọc Quỳnh xây dựng mô hình kinh tế hộ theo hướng tổng hợp.
Trở về địa phương từ năm 2001, ông Quỳnh từng bước đầu tư, mở rộng sản xuất trên diện tích khoảng 20 ha. Gia đình trồng hơn 10 ha cây lâm nghiệp, phát triển quế và khoảng 2.000 cây bưởi với các giống bưởi Diễn, bưởi da xanh.
Cùng với trồng trọt, gia đình kết hợp chăn nuôi gà, lợn, dê và hươu để tận dụng điều kiện đất đai, đa dạng nguồn thu và hạn chế rủi ro trong sản xuất.
Khối lượng công việc lớn, gia đình ông thuê thêm lao động địa phương trông nom, chăm sóc cây trồng, vật nuôi. Với ông Quỳnh, phát triển kinh tế không chỉ để lo cho gia đình mà còn phải biết chia sẻ thành quả với những người xung quanh.
Không chỉ ông Quỳnh, các cựu chiến binh ở nhiều địa phương trong tỉnh, sau khi ổn định sản xuất đã tạo thêm việc làm, hỗ trợ đồng đội và người dân cùng phát triển kinh tế. Đơn cử như tại xã Võ Lao, doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp do cựu chiến binh Nguyễn Văn Thắng làm chủ thường xuyên tạo việc làm cho 15 lao động với thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/người/tháng. Hằng năm, doanh nghiệp đóng góp trên 50 triệu đồng vào các quỹ của địa phương.
Tại xã Bát Xát, doanh nghiệp của cựu chiến binh Vũ Ngọc Vinh duy trì việc làm cho 60 lao động với thu nhập bình quân khoảng 15 triệu đồng/người/tháng; hằng năm đóng góp trên 150 triệu đồng vào các quỹ của địa phương. Đây là những lát cắt tiêu biểu trong phong trào cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi trên địa bàn tỉnh.
Theo Hội Cựu chiến binh tỉnh, hội viên hiện làm chủ 111 doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút 1.238 lao động; 49 hợp tác xã tạo việc làm cho 745 lao động và 276 tổ hợp tác, thu hút 945 lao động. Bên cạnh đó, 260 trang trại, 1.637 gia trại và 2.036 hộ kinh doanh dịch vụ đang tạo việc làm cho gần 8.400 người. Tính chung, các mô hình sản xuất, kinh doanh do hội viên cựu chiến binh làm chủ thu hút trên 11.300 lao động.
Trong số này, 9 doanh nghiệp đạt doanh thu trên 50 tỷ đồng/năm; 5 hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại đạt doanh thu trên 10 tỷ đồng/năm.
Những con số cho thấy phong trào không chỉ dừng ở kinh tế hộ nhỏ lẻ mà đã hình thành nhiều mô hình có quy mô, khả năng tạo việc làm và đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương.
Không chỉ tự tổ chức sản xuất, kinh doanh, nhiều hội viên còn tham gia hỗ trợ các gia đình khó khăn. Toàn tỉnh đã triển khai trên 200 mô hình giúp nhau phát triển kinh tế, gồm mô hình “5+1” (5 gia đình hội viên có điều kiện cùng giúp 1 gia đình hội viên thoát nghèo), mô hình góp vốn xoay vòng và câu lạc bộ giúp nhau giảm nghèo. Theo đại diện Hội Cựu chiến binh tỉnh, các mô hình đã hỗ trợ trên 2.000 gia đình hội viên thoát nghèo.
Để phong trào có thêm nguồn lực, các cấp hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội quản lý dư nợ ủy thác gần 2.912 tỷ đồng, tạo điều kiện cho hơn 15.300 hộ cựu chiến binh vay vốn. Giai đoạn 2021 - 2026, các cấp hội phối hợp tổ chức 380 lớp tập huấn cho 8.566 lượt hội viên về khuyến nông, khuyến lâm, kỹ thuật sản xuất, bảo vệ môi trường và sử dụng vốn.
Nguồn vốn và kiến thức giúp nhiều hội viên mạnh dạn đầu tư, chuyển đổi sản xuất. Tuy nhiên, phong trào giữa các địa phương chưa đồng đều; nhiều hội viên tuổi cao, sức khỏe hạn chế, thiếu vốn và kiến thức quản trị; một số mô hình còn nhỏ lẻ, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi số và liên kết tiêu thụ chưa đáp ứng yêu cầu.
Giai đoạn 2026 - 2031, Hội Cựu chiến binh tỉnh xác định tiếp tục nhân rộng những mô hình kinh tế hiệu quả, thúc đẩy kinh tế hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa do cựu chiến binh làm chủ; khuyến khích ứng dụng công nghệ số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sản phẩm VietGAP, OCOP và các chuỗi liên kết tiêu thụ.
Theo ông Nguyễn Minh Quyết, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh, giai đoạn 2026 - 2031, mỗi năm, toàn hội phấn đấu phát triển ít nhất 50 mô hình sản xuất, kinh doanh, đưa dư nợ vốn chính sách lên 4.000 tỷ đồng và nâng tỷ lệ hộ cựu chiến binh khá, giàu đạt từ 60% trở lên.
Với nhiều cựu chiến binh, phát triển kinh tế trước hết là để ổn định cuộc sống gia đình. Khi có điều kiện, họ tiếp tục tạo việc làm, hỗ trợ đồng đội, giúp người dân cùng phát triển. Từ những mô hình sản xuất, kinh doanh cụ thể, tinh thần tương trợ ấy đang trở thành một cách làm thiết thực để cùng nhau vươn lên.