Chính phủ ban hành Nghị định về thanh toán điện tử giao thông đường bộ

Ngày 30/9, Chính phủ ban hành Nghị định 119/2024/NĐ-CP quy định về thanh toán điện tử giao thông đường bộ.

2.jpg
Thanh toán tiền sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng.

Thanh toán tiền sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng

Nghị định nêu rõ, hình thức vận hành hệ thống thiết bị lắp đặt tại trạm thu phí đường bộ theo hình thức điện tử không dừng gồm: Hình thức đơn làn có barrier và hình thức đa làn tự do.

Theo hình thức đơn làn có barrier, barrier tại trạm thu phí đường bộ sẽ mở cho phương tiện đi qua khi phương tiện có gắn thẻ đầu cuối hợp lệ và thực hiện thành công thanh toán tiền sử dụng đường bộ.

Theo hình thức đa làn tự do, tại khu vực trạm thu phí đường bộ chỉ còn duy trì giá long môn và các thiết bị thu phí gắn trên giá long môn. Hình thức này chỉ áp dụng tại đầu vào của đường cao tốc.

Quá trình xử lý giao dịch thanh toán tiền sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng

Nghị định nêu rõ, khi phương tiện đi vào vùng nhận diện của hệ thống thiết bị lắp đặt tại trạm thu phí đường bộ, hệ thống thiết bị lắp đặt tại trạm thu phí đường bộ sẽ đọc thông tin, gửi thông tin giao dịch về Hệ thống điều hành và trung tâm dữ liệu của Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ để thực hiện thanh toán tiền sử dụng đường bộ và gửi lại thông tin cho hệ thống thiết bị lắp đặt tại trạm thu phí đường bộ để kết thúc giao dịch phương tiện qua trạm thu phí đường bộ.

Nội dung trao đổi thông tin và quá trình xử lý giao dịch thanh toán tiền sử dụng đường bộ được thực hiện theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về trạm thu phí đường bộ và các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật khác có liên quan.

Sau khi kết thúc giao dịch, Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ và đơn vị vận hành thu đồng bộ thông tin giao dịch thanh toán tiền sử dụng đường bộ về Hệ thống cơ sở dữ liệu thanh toán điện tử giao thông đường bộ.

Hai phương thức thanh toán tiền sử dụng đường bộ

Theo Nghị định, thanh toán tiền sử dụng đường bộ được thực hiện theo phương thức mở và phương thức kín.

Trong đó, phương thức mở là phương thức thanh toán mà chủ phương tiện phải trả một mức tiền tại trạm thu phí đường bộ không phụ thuộc vào chiều dài quãng đường phương tiện đã đi được trên đoạn đường thanh toán tiền sử dụng đường bộ mà chỉ phụ thuộc vào kiểu loại phương tiện.

Phương thức kín là phương thức thanh toán mà chủ phương tiện phải trả một mức tiền tại trạm thu phí đường bộ dựa vào chiều dài quãng đường phương tiện đã đi được trên đoạn đường thanh toán tiền sử dụng đường bộ và kiểu loại phương tiện.

Nghị định nêu rõ, các tuyến, đoạn tuyến đường cao tốc; các tuyến, đoạn tuyến đường cao tốc nối tiếp nhau được tổ chức thu thành một hệ thống thu thực hiện theo phương thức kín theo hình thức điện tử không dừng.

Các trạm thu phí đường bộ không nằm trên đường cao tốc phải triển khai thu tiền sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng và duy trì mỗi trạm thu phí đường bộ có 1 làn thu phí hỗn hợp hoặc 1 làn xử lý sự cố (làn thu phí áp dụng cả hình thức điện tử không dừng và một dừng) trên mỗi chiều lưu thông theo quy định.

Việc thiết kế, đầu tư, xây dựng, cải tạo, nâng cấp trạm thu phí đường bộ, hình thức vận hành hệ thống thiết bị lắp đặt tại trạm thu phí đường bộ và phương thức thu tiền sử dụng đường bộ được cấp có thẩm quyền quyết định trong Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư kết cấu hạ tầng đường bộ hoặc trong Đề án khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ.

Thanh toán các loại phí, giá, tiền dịch vụ khác

Theo Nghị định, đơn vị quản lý thu sử dụng hình thức đơn làn có barrier hoặc sử dụng hệ thống thiết bị di động để đọc thông tin thẻ đầu cuối để thanh toán các loại phí, giá, tiền dịch vụ khác phải thu.

Quá trình xử lý giao dịch thanh toán

(1) Nghị định nêu rõ, trường hợp nhà cung cấp dịch vụ thanh toán giao thông đường bộ xác định chi phí, khi phương tiện đi vào vùng nhận diện của hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu, hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu sẽ đọc thông tin, gửi thông tin giao dịch về Hệ thống điều hành và trung tâm dữ liệu của Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán giao thông đường bộ để thực hiện thanh toán điện tử giao thông đường bộ và gửi lại thông tin cho hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu để kết thúc giao dịch phương tiện qua điểm thu.

(2) Trường hợp hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu xác định chi phí, khi phương tiện đi vào vùng nhận diện của hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu, hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu sẽ đọc thông tin để tính phí, giá, tiền dịch vụ khác phải thu và gửi thông tin giao dịch cho hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ thanh toán giao thông đường bộ để thực hiện thanh toán điện tử giao thông đường bộ; Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán giao thông đường bộ gửi lại thông tin giao dịch sau khi xử lý cho hệ thống thiết bị lắp đặt tại điểm thu để kết thúc giao dịch phương tiện qua điểm thu.

Nội dung trao đổi thông tin và quá trình xử lý giao dịch thanh toán điện tử giao thông đường bộ được thực hiện theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về điểm thu và các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật khác có liên quan.

Sau khi kết thúc giao dịch, nhà cung cấp dịch vụ thanh toán giao thông đường bộ và đơn vị vận hành thu đồng bộ thông tin giao dịch thanh toán điện tử giao thông đường bộ về Hệ thống cơ sở dữ liệu thanh toán điện tử giao thông đường bộ.

Đơn vị quản lý thu quyết định việc xử lý thanh toán theo quy định tại điểm (1) hoặc điểm (2) nêu trên.

Đơn vị quản lý thu quyết định phương thức thanh toán phù hợp với dịch vụ phải thu phí, giá, tiền dịch vụ.

Quyền, nghĩa vụ của nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông đối với chủ phương tiện

Theo Nghị định, nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông hướng dẫn sử dụng, bảo hành thẻ đầu cuối gắn cho chủ phương tiện trong trường hợp Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông là nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ; hướng dẫn chủ phương tiện cách thức sử dụng dịch vụ.

Bên cạnh đó, nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông tổ chức tiếp nhận, xử lý thông tin tra soát, khiếu nại của chủ phương tiện: Áp dụng tối thiểu hai hình thức tiếp nhận thông tin tra soát, khiếu nại bao gồm qua tổng đài điện thoại (có ghi âm, hoạt động 24/24 giờ trong ngày và 7/7 ngày trong tuần) và qua trụ sở/chi nhánh của nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông; bảo đảm xác thực những thông tin cơ bản mà chủ phương tiện đã cung cấp cho Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông;

Thời hạn xử lý đề nghị tra soát, khiếu nại không quá 45 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đề nghị tra soát, khiếu nại lần đầu của chủ phương tiện.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2024. Việc thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng đã được thực hiện theo Quyết định số 19/2020/QĐ-TTg ngày 17/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục được thực hiện đến ngày 1/7/2026.

Theo nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lào Cai: Chi trả hơn 15,4 tỷ đồng và bố trí tái định cư cho các hộ đầu tiên tại thôn Cù Hà

Lào Cai: Chi trả hơn 15,4 tỷ đồng và bố trí tái định cư cho các hộ đầu tiên tại thôn Cù Hà

Chiều 17/8, tại Nhà văn hóa thôn Cù Hà, xã Gia Phú, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng phường Lào Cai phối hợp cùng UBND xã Gia Phú tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ dân. Đây là các hộ dân đi đầu trong diện thu hồi đất phục vụ dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Phú Xuân.

Từ lợi thế tài nguyên đến sức hút đầu tư

Từ lợi thế tài nguyên đến sức hút đầu tư

Hơn 350 tỷ đồng đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gia vị tại xã Xuân Ái, Công ty TNHH Hương gia vị Sơn Hà đang biến lợi thế vùng nguyên liệu quế của Lào Cai thành dự án sản xuất cụ thể. Nhà máy hoạt động mở thêm hướng nâng cao giá trị cây quế và cho thấy sức hấp dẫn của những vùng nguyên liệu được tổ chức ngày càng bài bản.

Chủ động nhận diện nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại

Chủ động nhận diện nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại

Hàng lậu xé lẻ trôi nổi qua biên giới; hàng giả len lỏi vào các điểm du lịch; còn trên không gian mạng, hành vi vi phạm ẩn sau những tài khoản và giao dịch ảo. Thực tế ấy yêu cầu các lực lượng chức năng tỉnh không chỉ phát hiện, xử lý nghiêm hành vi vi phạm mà còn phải chủ động nhận diện nguy cơ, quản lý chặt địa bàn và ngăn chặn từ sớm, từ xa.

Gỡ “điểm nghẽn” đường tỉnh 163, mở đường cho Châu Quế phát triển

Gỡ “điểm nghẽn” đường tỉnh 163, mở đường cho Châu Quế phát triển

Nhiều năm qua, đường tỉnh 163 được xem là tuyến giao thông huyết mạch kết nối xã Châu Quế với xã Bảo Hà và các địa phương lân cận. Tuy nhiên, hơn 20km trên tuyến chưa được đầu tư hoàn chỉnh, mặt đường hẹp, xuống cấp, nhiều vị trí tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Đặc biệt, cầu Quần tại Km 65+400 bị hỏng do ảnh hưởng của mưa lũ, xe có trọng tải lớn không thể lưu thông trong nhiều năm, trở thành “điểm nghẽn” đối với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tân Hợp khánh thành hai công trình giao thông trị giá gần 3 tỷ đồng

Tân Hợp khánh thành hai công trình giao thông trị giá gần 3 tỷ đồng

Ngày 16/8, xã Tân Hợp (tỉnh Lào Cai) tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng hai công trình giao thông tại thôn Nà Hẩu và thôn Làng Bang sau gần 2 tháng thi công. Đây là những công trình có ý nghĩa thiết thực đối với việc đi lại của người dân, nhất là tại các khu vực thường chịu ảnh hưởng của mưa lũ và địa hình chia cắt.

Lào Cai: Chủ động phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa vụ mùa

Lào Cai: Chủ động phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa vụ mùa

Thời tiết nắng, mưa xen kẽ, độ ẩm cao đang tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sinh vật gây hại phát sinh, gia tăng trên các trà lúa vụ mùa. Ngành chuyên môn và các địa phương trong tỉnh đang tăng cường kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn người dân chủ động phòng trừ, bảo vệ hơn 45.220 ha lúa, góp phần bảo đảm năng suất, sản lượng vụ mùa.

Mở hướng sản xuất hàng hóa ở Tà Xi Láng

Mở hướng sản xuất hàng hóa ở Tà Xi Láng

Từ những giàn su su trên triền núi đến đàn gia súc của các hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ, Tà Xi Láng đang từng bước hình thành những mô hình kinh tế dựa trên lợi thế về khí hậu, đất đai và tài nguyên rừng. Không chỉ cải thiện thu nhập, người dân địa phương còn dần thay đổi tư duy, từ sản xuất tự cấp, tự túc sang tính toán năng suất, giá bán, quy mô và đầu ra sản phẩm.

fb yt zl tw