Chế độ với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ, dưới 20 năm trong quân đội đã xuất ngũ

Toàn văn Văn bản hợp nhất số 39/VBHN-BQP Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chế độ với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ dưới 20 năm công tác trong quân đội đã xuất ngũ.

Hướng dẫn thực hiện chế độ với quân nhân tham gia chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã xuất ngũ

Bộ Quốc phòng ban hành Văn bản hợp nhất số 39/VBHN-BQP Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương.

Đối tượng và điều kiện áp dụng chế độ

Quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hằng tháng, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(1) Đã phục viên, xuất ngũ về địa phương;

(2) Đã chuyển ngành rồi thôi việc;

(3) Đã phục viên, xuất ngũ một thời gian rồi tiếp tục công tác (tái ngũ; làm việc ở cơ quan, đơn vị, tổ chức ngoài quân đội), sau đó lại phục viên, xuất ngũ, thôi việc;

(4) Đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, sau đó công tác ở xã, phường, thị trấn, đã nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng hoặc chế độ hưu trí; hoặc đang công tác ở xã, phường, thị trấn hưởng lương từ ngân sách Nhà nước có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà không được tính thời gian công tác trong quân đội là thời gian có đóng bảo hiểm xã hội.

Đối tượng không áp dụng chế độ

(1) Những người thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 nêu trên nhưng hiện đang hưởng chế độ hưu trí (trừ số cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng chế độ hưu trí hoặc chế độ trợ cấp hằng tháng mà không được tính thời gian công tác trong quân đội để hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng hoặc chế độ hưu trí), chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hằng tháng; hoặc hiện đang công tác hưởng lương từ ngân sách nhà nước có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (trừ số cán bộ xã, phường, thị trấn đang công tác mà không được tính thời gian công tác trong quân đội là thời gian có đóng bảo hiểm xã hội);

(2) Những người phản bội, đầu hàng địch; người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; người tính đến ngày Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành mà đang chấp hành án tù chung thân hoặc bị kết án một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà chưa được xóa án tích;

(3) Người xuất cảnh ra nước ngoài bất hợp pháp; người xuất cảnh và ở lại nước ngoài bất hợp pháp (bao gồm cả người đi lao động hợp tác quốc tế);

(4) Người đã hưởng chế độ trợ cấp một lần quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005; khoản 2 Điều 1 Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ thì không được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo hướng dẫn tại khoản 3, 4 Mục II Thông tư này;

(5) Người đã từ trần nhưng không còn vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.

Hiệu lực thi hành Thông tư liên tịch

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

2. Chế độ trợ cấp hằng tháng theo hướng dẫn tại Thông tư này được thực hiện từ ngày 01/01/2009.

Đối tượng đã hưởng chế độ trợ cấp một lần theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005; khoản 2 Điều 1 Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ đủ điều kiện chuyển sang hưởng trợ cấp hằng tháng thì ngành Nội vụ thực hiện truy thu khoản trợ cấp một lần đối tượng đã nhận vào ngân sách Nhà nước.

Số tiền truy thu thực hiện theo quyết định của Cục Chính sách - Xã hội/Tổng cục Chính trị. Việc truy thu thực hiện hằng tháng, mỗi tháng truy thu bằng mức trợ cấp của đối tượng được hưởng cho đến khi thu đủ số tiền trợ cấp một lần đã nhận. Kinh phí thu được do truy thu được trừ vào số kinh phí phải bảo đảm để Bộ Nội vụ chi trả trợ cấp hằng tháng cho đối tượng.

3. Chế độ trợ cấp một lần được thực hiện từ ngày Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành.

4. Những người có hành vi khai man hoặc làm sai lệch, giả mạo hồ sơ, ngoài việc bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Bộ Quốc phòng để phối hợp với liên Bộ xem xét, giải quyết./.

xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục

Lào Cai ban hành kế hoạch triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân

Lào Cai ban hành kế hoạch triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân

Ngày 31/3/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành Kế hoạch số 143/KH-UBND về việc triển khai các chính sách hỗ trợ theo Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 của Chính phủ, nhằm cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Những chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 4/2026

Những chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 4/2026

Trong tháng 4/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật là các chính sách liên quan đến thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính; xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam; thông tin thống kê...

Lào Cai ban hành Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030

Lào Cai ban hành Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030

Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh, nhằm chủ động theo dõi, kiểm soát môi trường tại các vùng nuôi trọng điểm, bảo đảm phát triển thủy sản hiệu quả và bền vững.

fb yt zl tw